ĐẢNG CSHCM & CHXHCN VIỆT NAM THỜI BAO CẤP SAI LẦM CHÍNH SÁCH KINH TẾ (5/1975 - 12/1986) - CHUYỆN NGÀY ẤY VÀ CHUYỆN BÂY GIỜ .
- Tôi nhớ mãi một ngày vào đầu năm 1986. Ba tôi bảo tôi rứt một đôi giấy trong một cuốn vở..., rồi ông ngồi tỉ mẩn viết "Đơn xin mang 2 kg cua biển"
Cái đơn đó sau được UBND xã đóng dấu đỏ chót, cho phép ba tôi mang 2 kg cua nhà bắt được từ Bến Tre lên Đồng Nai để biếu một người bà con. Ba tôi giải thích: Nếu không có sự xác nhận của chính quyền địa phương, số cua ba mang đi dọc đường trên xe khách hoàn toàn có thể bị xét, bị phát hiện và bị tịch thu.
Hè năm đó, tôi theo ba lên Đồng Nai để phụ các việc rẫy bái trong một hành trình dài 2 ngày cho chặng đường 250 km, vừa đi đò, đi xích lô, đi xe đò và... đi bộ. Trên chuyến xe đò năm đó, tôi được mấy dì người thì dúi cho túi cá khô nhỏ, người thì nhờ xách một bịch dừa... Thấy tôi ngơ ngác, mẹ tôi bảo nhỏ: Con mang giùm người ta, con nít đem theo ăn chắc không ai bắt, chứ họ mang nhiều có khi bị cho là đem buôn bán, bị tịch thu đó! Tôi không biết có ai mang theo để bán lại không hay chỉ mang để dành ăn trong nhà hoặc biếu bà con như ba tôi làm trước đó nhưng lòng cứ thắc mắc mãi.
Sau mấy tháng hè, tôi theo mẹ về quê. Trên chuyến xe đò khách chen chúc, tôi dù bị say xe vẫn nhớ cảnh một số người mang ít ký đậu nành, bắp trắng hay khúc thuốc rê bị giữ lại... Có người khóc thút thít, nói: mang chút đồ về nhà ăn thôi chứ bán chác gì mà cũng bị bắt? Mãi sau này đọc các bài báo, các tài liệu tôi mới hiểu vì sao có chuyện đó. Ôi, cái thời ngăn sông cấm chợ khắt khe như thế, ảnh hưởng đến cuộc sống của biết bao người. Ở nơi khác, lúc khác, còn có nhiều chuyện đau lòng hơn, mà bây giờ kể lại nếu không từng chứng kiến, không hiểu bối cảnh đó sẽ không thể tin là sự thật!
Đó là đêm dài của khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài từ cuối những năm 1970, khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp lộ rõ những bất cập nghiêm trọng.
Ngay tại các đô thị lớn vào những năm 1985-1986, nhiều con phố tối om vì thiếu điện, hàng dài người xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch quốc doanh để nhận tem phiếu mua gạo, thịt, vải vóc... Mỗi người chỉ được vài lạng thịt/tháng, vài mét vải/năm; việc mua được xà bông, bột ngọt, những thứ thiết yếu trong đời sống, cũng rất khó khăn. Ở nông thôn, hợp tác xã hay tập đoàn nông nghiệp với cơ chế "dong công phóng điểm" khiến nông dân mất động lực sản xuất. Nhiều gia đình phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, củ chuối qua ngày. Lạm phát phi mã lên đến 774,7% năm 1986, tiền mất giá chóng mặt sau cuộc đổi tiền năm 1985 thất bại. Người dân gọi đó là "thời bao cấp", thời mà mọi thứ đều thiếu thốn, từ lương thực đến hàng tiêu dùng , từ trong ra ngoài , từ dưới lên trên ... đều thiếu đói .
Người dân gian nói câu hài , ngạo tếu cho vui : Xã hội chủ nghĩa XHCN là " xiếp hàng cả ngày " hay câu vè chế giễu mô hình hợp tác xã nông nghiệp làm công điểm , đổi lúa :
" Đi làm hợp tác hợp te ,
Không đủ miếng giẻ mà che cái lồn " ...
Nhưng có thật trong giai đoạn " Thời bao cấp XHCH " từ thàng 5/1975 tới tháng 12/1986 .
Ở nông thôn, tuy làm ra lúa gạo, tôm cá nhưng gần như để ăn, việc bán chác rất khó khăn. Quê tôi ven biển, nhiều người đóng đáy, đi rập được những con cua kình hoặc cua gạch cái xề hơn nửa ký nhưng chỉ để nhà ăn, chứ bán rẻ như cho, bởi chỉ bán quanh quẩn cho người trong vùng. Mẹ tôi mua khoai mì về ăn độn, tôi chỉ bỏ lớp vỏ đen bên ngoài mà không dám lột vỏ lụa, vì vỏ đó vẫn ăn được! Còn ở thành thị, sau này đọc các tài liệu tôi mới ngỡ ngàng về sự sáng tạo: nhiều gia đình cải tạo ban công, nhà vệ sinh vốn chật chội để nuôi heo, nuôi chim cút, nuôi gà..., nhằm cải thiện đời sống. Công nhân viên chức lương tháng không đủ sống, phải làm thêm nghề tay trái như đan lát, sửa xe đạp, may vá...
Ở các cửa hàng mậu dịch, không nói đến chất lượng hàng hóa chưa cao do điều kiện sản xuất thời bấy giờ, cách thức buôn bán và thái độ phục vụ rất kém. Những người bán hàng thường xuyên mặt cau mày có, không chỉ dòng người xếp hàng chờ mua rất đông mà còn vì sự bất cần nữa! Tôi nhớ mãi hình ảnh cái lon đong dầu hôi (quê tôi gọi là "dầu trắng", dùng để thắp đèn; có nơi dùng để đốt bếp lò xô; để phân biệt với "dầu đỏ" (tức dầu diesel) bị bóp méo để giảm dung tích, còn dầu trắng luôn bị trộn thêm dầu đỏ do dầu đỏ giá rẻ hơn. Chính vì vậy, đèn dầu thắp khói nhiều và tim (bấc) mau lụn!
Do giá ở thị trường chính thức và "chợ đen" khác biệt lớn nên tình trạng buôn lậu diễn ra khắp nơi ,dù nhà nước CS XHCN tung lực lượng quản lý thị trường ,cảnh sát kinh tế, công an giao thông ... tả xung hữu đột, hùng hổ ra sức " ngăn sông , cấm chợ " lập công dâng đảng CS quang vinh ?... bất chấp tất cả tình tự con người !
Trong tiểu thuyết "Tiếng rừng" có một chi tiết khiến người đọc khó quên: tay tài xế xe tải dọc đường gặp một cô gái vẫy đi nhờ xe; trên đường đi thấy cô vui vẻ, cởi mở nên anh ta mới ỡm ờ, tay vờ như vô tình đặt lên đùi cô gái ngồi bên, nhưng giật mình vì sau lớp vải không phải là da thịt mà là cái gì đó thô cứng... Bị lộ, cô gái mới thú thật là mình đi buôn lậu cà phê, trên người cô có nhiều chỗ được bọc một túi vải chứa hạt cà phê... Vậy nên trong số những người đi trên các chuyến xe đò tôi kể ở trên biết đâu cũng có người buôn lậu!
- Giải pháp tất yếu: In tiền
“Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra ! In ra ! Không sợ lạm phát ! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát, chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ !”
(TBT CS Lê Duẩn, Theo hồi ký "Đèn Cù" của nhà báo Trần Đĩnh, trang 186-187)
- Trong báo cáo chính trị do TBT CS Trường Chinh đọc ra, tại Đại hội VI Đảng CSHCM vào cuối năm 1986, có nhiều đoạn nhìn thẳng vào sự thật, như "trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế"; "đó là những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế và trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, là tác hại của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp tồn tại nhiều năm trong quản lý kinh tế, dẫn tới sản xuất chậm phát triển, mâu thuẫn giữa cung và cầu ngày càng gay gắt"; "sai lầm trong lĩnh vực phân phối, lưu thông là sai lầm rất nghiêm trọng trong lãnh đạo và quản lý kinh tế 5 năm qua"; "những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện"; "khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan"...
Những sai lầm chủ quan, duy ý chí ... đã đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, suy thoái. Những câu chuyện đời thường ở trên phản ánh rõ nét khủng hoảng sâu sắc: sản xuất đình trệ, trình độ sản xuất nói chung kém, năng suất thấp, nhập siêu lớn, viện trợ từ Liên Sô và Đông Âu giảm sút... Dân chúng đói nghèo, bất mãn lan rộng , thất vọng do sự thay đổi chế độ hà khắc sau 30-4-1975. Những "xé rào", "bung ra" tự phát ở một số địa phương như khoán hộ ở Vĩnh Phú, Hải Phòng ... hay buôn bán tự do ở miền Nam đã báo hiệu nhu cầu cấp bách .
- Tố Hữu và Siêu Lạm phát 774.7% - Khi Nhà thơ chỉ đạo Kinh tế : " Tố Hữu tăng lương không bằng Trần Phương tăng giá ."
Cuộc khủng hoảng siêu lạm phát năm 1986 có nguồn gốc sâu xa từ những yếu kém mang tính hệ thống của nền kinh tế bao cấp, một mô hình đã trở nên không bền vững sau một thập kỷ vận hành thiếu hiệu quả và cạn kiệt nguồn lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm đi trách nhiệm của các cá nhân có thẩm quyền. Tố Hữu, với tư cách là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, người nắm quyền điều hành kinh tế, phải chịu trách nhiệm chính trị trực tiếp, cơ bản và không thể phủ nhận đối với sự kiện cụ thể đã châm ngòi cho sự sụp đổ. Chữ ký của ông ta trên văn bản thực thi cuộc cải cách "Giá - Lương - Tiền" năm 1985 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa. Nền tảng tư tưởng quá giáo điều và sự thiếu kinh nghiệm về kinh tế đã khiến ông ta ủng hộ một giải pháp đơn giản hóa một cách nguy hiểm và mang nặng tính lý thuyết cho một vấn đề kinh tế vĩ mô phức tạp.
Mặc dù lời phê bình chính thức của Đảng CSHCM mang tính tập thể, hệ thống chính trị đã đưa ra phán quyết đối với cá nhân Tố Hữu thông qua việc Tố Hữu không còn được tín nhiệm vào Bộ Chính trị. Tố Hữu đã phải chịu trách nhiệm cho thất bại của ông ta .
Cuối cùng, vai trò của Tố Hữu trong lịch sử có thể được xem là một vở bi hài kịch: ông ta là một tay CS gộc... bảo thủ giáo điều ,kiến thức kinh tế không có căn bản và một nhà thơ gieo nhiều ân oán (Nhân văn - Giai phẩm), người có sự nghiệp chính trị kết thúc bằng việc chủ trì một trong những thất bại chính sách kinh tế tai hại và dỡ hơi nhất trong lịch sử hiện tại . Sau khi bị bãi nhiệm, ông "thơ thẩn" vẫn liên tục phản đối phong trào Đổi Mới. Song trớ trêu thay chính sự thất bại trước đó của ông ta , đã vô tình mở đường những cải cách cho quan niệm kinh tế tư hữu , tư nhân là thành phần cốt lõi ,căn bản của kinh tế tự do theo chủ nghĩa Tư bản .
USSR-NGARUSSIA "GORBYMANIA" MIKHAIL GORBACHEV WITH "PERESTROIKA - GLASNOT".
Tư tưởng "Đổi Mới" của TBT Liên Sô 3-1985 Mikhail Gorbachev định hướng tới Đại hội ĐCSHCM lần thứ VI (15 – 18/12/1986)- CHXHCN Việt Nam .
Đón vị Giáo sư – Trưởng khoa tại sân bay quốc tế Nội Bài vào một trưa mùa hè oi ả năm 1987. Giáo sư đến thăm Viện tôi theo thỏa thuận giữa hai Đại học. Vừa vứt áo com-lê vào chiếc Volga nóng như một lò thiêu, ông phàn nàn ngay: “Sao chú mày không mang về Hà Nội một ít ‘gió’ của ‘tư duy mới’ và ‘Peresroika’? Bức bối như thế này thì tao chỉ sang Hà Nội lần này là lần cuối”. Suốt từ Nội Bài về Nhà Khách Chính phủ ở 12 Ngô Quyền, câu chuyện giữa chúng tôi xoay quanh cơn sốt “Gorbymania” (cuồng Gorbachev) ở nước ông và ông muốn tôi cho biết phản ứng của Hà Nội thế nào. Giáo sư tỏ phấn khích khi tôi nói về “tư duy mới” và ghi nhận chính sách vừa ban bố của Liên Sô đối với châu Á có nhiều điều khá hấp dẫn.
“Gorbymania” ngày ấy và bây giờ…
Tâm lý “mê Gorbachev” (Gorbymania) là hoàn toàn có cơ sở khách quan ở Việt Nam thời bấy giờ. Đại hội ĐCSHCM lần thứ VI (15 – 18/12/1986) là một Đại hội lịch sử, xét cả về mặt nội trị lẫn xây dựng Đảng CSHCM . Rất nhiều tài liệu nước ngoài ghi nhận rằng, chính sách Perestroika (Cải tổ), Glasnot (Công khai), cùng với 2,88 tỷ USD (được quy đổi từ đồng Rúp) tiền viện trợ của Matxcơva đã khiến Hà Nội vững tin hơn để chấn chỉnh có hạn chế cách điều hành kinh tế kiểu cũ, thực chất là bỏ dần các sai lầm tự mình gây ra, về sau được gọi là “Đổi Mới”. CHXHCNViệt Nam vừa thoát khỏi hàng chục năm chiến tranh ác liệt, lại phải đương đầu chống Khmer Đỏ do Trung quốc chống lưng, tiếp theo là đối phó với cuộc xâm lược của chính Trung quốc tại 6 tỉnh biên giới. Trong bối cảnh ấy, ĐCSHCM chỉ còn mỗi hy vọng, dựa vào Liên Sô để triển khai kế hoạch kinh tế 5 năm tiếp theo.
Tuy nhiên, Đại hội VI của ĐCSHCM chỉ mới mở ra một số tiền đề chứ chưa tạo được đột phá nào có tác động tức thì trong chính sách đối ngoại. Các báo cáo chính trị và kinh tế đều nhấn mạnh đến chính sách Đổi Mới. Võ Văn Kiệt dường như là người đi đầu trong việc ủng hộ khái niệm về cải cách, mở cửa để hội nhập. Theo ông Kiệt, nông nghiệp chứ không phải công nghiệp nặng sẽ là quan trọng nhất trong những năm sắp tới. Một ủy viên Bộ Chính trị khác (BCT), tuy chỉ xếp thứ 10 theo vị trí, nhưng đứng thứ 3 trong Ban bí thư, đó là Trần Xuân Bách – một trong những ngôi sao vụt sáng trên chính trường Việt Nam mấy năm trước và sau Đại hội VI. Cùng với Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, về sau thêm tướng Trần Độ, nhóm của Trần Xuân Bách hồi bấy giờ nổi lên như những người đi tiên phong của làn sóng Đổi Mới của Hà Nội.
Tuy nhiên, sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Kiệt – Bách – Thạch ở Việt Nam không thể nào sánh được với sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Gorbachev – Jeltsin – Yakovlev ở Liên Sô. Thất bại của ông Bách cũng là nằm ở chỗ này. Các trợ lý gần gũi các lãnh đạo Hà Nội hồi bấy giờ cho biết, những căng thẳng trong nội bộ Đảng còn bao gồm cả sự cọ xát giữa cá nhân những con người cụ thể, chứ không chỉ đơn thuần về lý luận. Cho tới lúc đó, “đa nguyên” chưa xuất hiện trên báo chí như là một vấn đề mang tính tư tưởng. Tháng 10/1988, nhân có cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội của các nhà khoa học xã hội đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, ông Trần Xuân Bách, với tư cách là uỷ viên BCT phụ trách Khoa – Giáo, đã tới dự và phát biểu khai mạc. Bài phát biểu của ông Trần Xuân Bách bắt đầu chạm tới những vấn đề cốt lõi của lý luận và bị coi như là cột mốc của những “chệch hướng” công khai.
Ông Trần Xuân Bách lập luận, chủ nghĩa xã hội mà Karl Marx dự báo “có những điểm không hoàn toàn khớp với hiện thực bảy mươi năm qua”, trong khi “chủ nghĩa tư bản chứa đựng những mầm mống và tiền đề vật chất – kỹ thuật cho xã hội mới”. Ông Bách cũng cho rằng: “Mô hình chủ nghĩa xã hội sẽ giảm tính thuyết phục, sức hấp dẫn, nếu năng suất lao động thấp hơn chủ nghĩa tư bản, nếu mọi công dân không thực sự có quyền tự do dân chủ... Ông Bách kêu gọi: “Các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần sử dụng đúng đắn quyền dân chủ và tự do sáng tạo của mình để nghiên cứu sâu sắc hơn, đề xuất với Đảng những ý kiến mới và cụ thể hơn liên quan đến thời kỳ quá độ… Khoa học xã hội có nhiệm vụ làm cho mọi người ý thức đầy đủ quyền tự do dân chủ của họ, giúp họ thực hiện quyền đó”.
Sau gần 35 năm vật đổi sao dời, hai tư tưởng cốt lõi nhất của Gorbachev được Trần Xuân Bách chuyển tải là tự do và dân chủ vẫn là điều cấm kỵ trong xã hội toàn trị ở Việt Nam và Liên bang Nga ngày nay. Tự do là gắn đến con người tự do và sáng tạo. Dân chủ gắn đến thể chế bảo đảm cho con người các quyền tự do ấy trong một nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự. Nếu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng vẫn còn sống đến ngày hôm nay, những người này vẫn sẽ hè nhau triệt tiêu “ánh sáng Trần Xuân Bách” để cứu Đảng CS, mà thực chất là giành và giữ mấy cái ghế của họ. Những người này và phe cánh họ vẫn căm Gorbachev, mặc dầu con tàu “Đổi Mới” lúc vừa xuất phát vẫn phải khởi động bởi năng lượng từ “Perestroika” và “Glasnot”. Không có Gobachev cùng với động lực từ “Cải tổ” và “Công khai” thì đã không có “Đổi Mới”. Cơn sốt “say mê Gorby”, “say mê tư duy mới” cũng từ đó mà ra.
“Gorbachev qua đời, vì sao dân Việt kẻ khen người chê”, phần nào cảm nhận được ngày nay ở Việt Nam vẫn chưa hết “cơn nghiện Gorby”. Một trong hàng trăm cái “tuýt” thật đáng đọc: “Gorbachev là một người đáng khâm phục nhất của thế giới ngày nay. Vì lúc đó ông là một người quyền lực nhất quả đất (có thể nói là con người số một thời điểm đó), nhưng đã sẵn sàng gạt bỏ cái tôi. Mục đích là đưa thế giới xích lại gần nhau hơn, tránh được chiến tranh lạnh, hạn chế chạy đua vũ trang để đầu tư vào phát triển kinh tế, phục vụ đời sống của nhân dân... Gorbachev là một người hùng đáng để cả nhân loại vinh danh. Nếu như ở VN ta có nhiều người vì lợi ích của nhân dân mà từ bỏ quyền lực thì là diễm phúc cho dân ta quá. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra. Họ là những người bị cả nước lên án nhưng vẫn cố bám ghế đến cùng! Bad guy!”
Từ trời Tây, tạp chí “Economist” bình luận: Mikhail Gorbachev đã giải phóng cho hàng triệu người, ngay cả khi ông không có ý định làm như vậy. Tuy nhiên, những bạo chúa thời nay lại coi cuộc đời và sự nghiệp của Gorbachev như một câu chuyện cần cảnh giác. Một đế chế được xây dựng trên sự dối trá và bạo lực không đáng để cứu giúp. Mikhail Gorbachev, nhà lãnh đạo CS Liên Sô , một ông Bụt sống của nhân loại ... đã qua đời ở Matxcơva ở tuổi 91, hiểu rõ điều đó hơn tất cả. Vì điều này, ông xứng đáng được tôn vinh, đặc biệt là nhờ có ông, hàng trăm triệu người đã sống trong tự do và hòa bình hơn kể từ khi ông đã khiến đế chế Liên Sô sụp đổ và do đó kết thúc Chiến tranh Lạnh. Bi kịch là rất nhiều người, kể cả các chính khách, đã quên những bài học trong câu chuyện phi thường của ông, hoặc rút ra những kết luận sai lầm chính xác từ chúng.
Di sản Gorbachev có giá trị gì đối với ban lãnh đạo CSHCM ngày nay, ngoài những lời tụng niệm phải cảnh giác, ngăn chặn đừng để “tư tưởng Peresroika – Glasnot” len lỏi vào hàng ngũ lãnh đạo của CSHCM ? Đại hội VI CSHCM (từ ngày 15 đến 18-12-1986) thừa nhận sai lầm, quyết định đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Từ cơ chế bao cấp chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đó là bước ngoặt Đổi mới, từ 18-12 năm 1986 theo TBT Liên Sô Mikhail Gorbachev khai mở định hướng . Nhưng thực ra là quay lại một trong những con đường của quy luật tự nhiên : Quy luật khách quan của phát triển kinh tế tư hữu - tư nhân tự do cung cầu trong xã hội Tư bản xưa và nay ! Cũng nhớ lại ngày xưa : Trong thời kỳ 20 năm của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam ,đã xây dựng nền móng căn bản của nền kinh tế tư hữu , tư nhân theo thị trường tự do cung cầu .
Trong khi , TBT CS Nguyễn Phú Trọng lại hết sức đau đầu trước hai vấn nạn lớn: kiểm soát quyền lực và đấu tranh chống tham nhũng. Nguyễn Phú Trọng muốn giải quyết hai vấn đề này mà không phải thay đổi thể chế, tức là không phải thay mô hình đảng trị (party rule) bằng pháp quyền (rule of law). Nhưng ông cũng biết rằng, quyền lực nếu không bị kiểm soát, sẽ tiếp tục đẻ ra tham nhũng, do quản trị yếu kém và thiếu minh bạch. Đó là nguyên nhân chính làm kinh tế thị trường “định hướng XHCN” bị méo mó, đi trệch đường ray phát triển.
Từ mô hình phát triển để “hóa Rồng – hóa Hổ” CHXHCNViệt Nam đang biến thành “Mèo vờn Chó”, với mô hình "Lưỡng tính" Xăng pha Nước - Rất dễ dàng , để lý giải . Thất bại là ở chỗ đó : Duy Ý Chí CS In Wrong Way !
Đó là bài học đắt giá từ những diễn biến tiêu cực trong mấy thập kỷ qua, làm triệt tiêu thành quả Đổi Mới từ thập kỷ thời Gorbachev – Trần Xuân Bách. Và giờ đây, Việt Nam vẫn đang sa lầy giữa ngã ba đường ý thức hệ.
NgaPutin không quốc tang, CHXHCNViệt Nam chẳng chia buồn ? May mà còn có mấy lời ai điếu cảm động từ các nguyên thủ châu Âu và Hoa Kỳ. Đó mới đúng là những chính khách lịch lãm và có văn hóa … tưởng nhớ tới ông Bụt sống nhân đạo với lòng nhân ái vô biên : Tổng Bí Thư CS Liên Sô-NgaRussia (CCCP) Mikhail Gorbachev !
NGHE KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA ... THỜI BAO CẤP XHCN .
Năm 1981 đã có cuộc vận động sáng tác bài Quốc ca mới thay cho bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao .
Tôi vẫn nhớ cuộc vận động này ( năm 1981 ) có nhiều nhạc sĩ ,nhà thơ tham gia .Nhiều nhạc sĩ tham gia sáng tác cả nhạc và lời .Một số bài được phát trên đài TNVN.Còn các nhà thơ chỉ sáng tác phần lời ,được đăng báo .Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng tham gia , báo Nhân Dân đăng bài của ông dài khoảng 10 câu thơ .
Kết quả là không có bài nào vượt được bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao. Cuộc vận động sáng tác quốc ca năm 1981 thất bại .Tiến quân ca sống sót .
Bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao ngày 13/8/1945 được Quốc dân đại hội Tân Trào chọn làm Quốc ca nước VNDCCH .Ngày 1/7/1976 được chọn làm Quốc ca CHXHCNVN .
Trở lại câu chuyện cuộc vận động sáng tác Quốc ca năm 1981 .
Người đưa ra ý tưởng thay đổi Quốc ca ( bỏ bài Tiến quân ca ) phải là người ở cương vị lãnh đạo quốc gia cao nhất .
Vào năm 1981 thì đó là các vị Lê Duẩn và Trường Chinh .Tôi nghiêng về phía Trường Chinh vì ông là nhà thơ với bút danh Sóng Hồng. Vụ này Trường Chinh đã thất bại ?
Văn Cao thoát chết !
-Thứ nhất là loạn quốc ca
Thứ nhì loạn giá, thứ ba loạn tiền
Thứ tư là loạn ưu tiên…
Nguyen Mutat
Dạo ấy còn có câu đồng dao...
Thứ nhất là loạn quốc ca.
Thứ nhì loạn gạo, thứ ba loạn tiền
- Bài Tiến Quân ca có nhiều đoạn nhạc và thậm chí cả lời rất giống với bài Quốc ca Pháp "La Marseillaise".
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:La_Marseillaise.ogg
Nhượng Nguyễn Khắc
Nếu đúng là các vị lãnh đạo cao nhất của chế độ như Lê Duẩn, Trường Chinh muốn thay bài Tiến Quân Ca của Văn Cao bằng một bài quốc ca khác thì đến Trời cũng chẳng cản được vì với thể chế toàn trị này lãnh đạo quyết sao thì tuân vậy thôi. Việc tổ chức thi tuyển quốc ca mới rồi ngưng có lẽ vì một lý do nào khác chứ không phải do sự biểu quyết mang tính "dân chủ" đâu bác Bùi Công Tự ạ.
-Hồi đó Xuân Thủy làm trưởng ban sáng tác quốc ca , sau ban đó tự giải tán.
-Tôi cũng nghĩ Trường Chinh và Tố Hữu chủ xướng việc thay Tiến Quân Ca của Văn Cao bằng 1 sáng tác mới hoàn toàn. Việc này vừa mang ý nghĩa "chuyển giai doan" sang "cả nước tiến lên CNXH", vừa không muốn "dính đến Văn Cao"! Nhưng khi cuộc vận động sáng tác quốc ca mới thất bại, thì phần lời của Tiến Quân Ca Văn Cao được sửa một số câu như ngày nay ta vẫn sử dụng. Bởi thế, Quốc ca VN hiện nay phải coi là "nhạc Văn Cao. Lời Văn Cao và Quốc hội khóa V" mới chính xác.
Quang Minh Vu
-Bạn không biết những chi tiết quan trọng: Trường Chinh là Trưởng ban sáng tác quốc ca mới lúc đó ! Và cũng chính Trường Chinh là trưởng ban chỉ đạo "đánh" phong trào "Nhân văn Giai phẩm" năm 1958 mà Văn Cao là một thành viên tích cực của phong trào này. Rồi sau này, lại cũng chính Trường Chinh là người bật đèn xanh cho cái gọi là "đổi mới" ở Việt nam năm 1986, nhưng thực ra là quay lại một trong những con đường của qui luật tự nhiên: qui luật khách quan của phát triển kinh tế.
Huy Hoang Le
-hồi đó có lần Văn Cao đi chơi bị công an giả dạng côn đồ hành hung ,chúng ta biết tố là người phụ trách văn hóa văn nghệ,vậy thì hành hung Văn Cao phải có chỉ đạo ,về sau ông chỉ ngồi trong nhà không đi đâu nữa
Thi Đào
- Trường Chinh là người đứng đầu trong vụ đánh Nhân văn Giai phẩm. Mà Văn Cao thì dính Nhân văn Giai phẩm. Sau Trường Chinh ,là Tố Hữu cũng là người đặc biệt ghét Văn Cao và Nhân văn Giai phẩm.
-Người đưa ra ý tưởng thay thế quốc ca là ông Trường chinh
Nhớ lại hồi đó sinh viên chúng tôi sáng nào cũng rủ nhau nghe đài phát các bài dự thi
Chúng tôi chẳng ai thấy bài nào ra hồn nhưng đều ý tứ không nói
Nghĩ lại cũng vui !
Cám ơn bạn nhiều!
-Vào những năm đó và khoảng 20 năm sau, thì mới có “môi trường” để sản sinh ra những ca khúc bất tử và đi vào lòng người như bài Tiến quân ca!
Còn về sau này, nhất là hiện nay, làm gì mà có “bụng dạ , tâm trí” nào để sáng tác được những tác phẩm hay như thế nữa…
Có lẽ, nếu sửa, chỉ nên sửa lại lời bài hát 1 chút, đặc biệt là nên thay câu “Đường vinh quang xây xác quân thù”…
- Tôi nhớ mãi một ngày vào đầu năm 1986. Ba tôi bảo tôi rứt một đôi giấy trong một cuốn vở..., rồi ông ngồi tỉ mẩn viết "Đơn xin mang 2 kg cua biển"
Cái đơn đó sau được UBND xã đóng dấu đỏ chót, cho phép ba tôi mang 2 kg cua nhà bắt được từ Bến Tre lên Đồng Nai để biếu một người bà con. Ba tôi giải thích: Nếu không có sự xác nhận của chính quyền địa phương, số cua ba mang đi dọc đường trên xe khách hoàn toàn có thể bị xét, bị phát hiện và bị tịch thu.
Hè năm đó, tôi theo ba lên Đồng Nai để phụ các việc rẫy bái trong một hành trình dài 2 ngày cho chặng đường 250 km, vừa đi đò, đi xích lô, đi xe đò và... đi bộ. Trên chuyến xe đò năm đó, tôi được mấy dì người thì dúi cho túi cá khô nhỏ, người thì nhờ xách một bịch dừa... Thấy tôi ngơ ngác, mẹ tôi bảo nhỏ: Con mang giùm người ta, con nít đem theo ăn chắc không ai bắt, chứ họ mang nhiều có khi bị cho là đem buôn bán, bị tịch thu đó! Tôi không biết có ai mang theo để bán lại không hay chỉ mang để dành ăn trong nhà hoặc biếu bà con như ba tôi làm trước đó nhưng lòng cứ thắc mắc mãi.
Sau mấy tháng hè, tôi theo mẹ về quê. Trên chuyến xe đò khách chen chúc, tôi dù bị say xe vẫn nhớ cảnh một số người mang ít ký đậu nành, bắp trắng hay khúc thuốc rê bị giữ lại... Có người khóc thút thít, nói: mang chút đồ về nhà ăn thôi chứ bán chác gì mà cũng bị bắt? Mãi sau này đọc các bài báo, các tài liệu tôi mới hiểu vì sao có chuyện đó. Ôi, cái thời ngăn sông cấm chợ khắt khe như thế, ảnh hưởng đến cuộc sống của biết bao người. Ở nơi khác, lúc khác, còn có nhiều chuyện đau lòng hơn, mà bây giờ kể lại nếu không từng chứng kiến, không hiểu bối cảnh đó sẽ không thể tin là sự thật!
Đó là đêm dài của khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài từ cuối những năm 1970, khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp lộ rõ những bất cập nghiêm trọng.
Ngay tại các đô thị lớn vào những năm 1985-1986, nhiều con phố tối om vì thiếu điện, hàng dài người xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch quốc doanh để nhận tem phiếu mua gạo, thịt, vải vóc... Mỗi người chỉ được vài lạng thịt/tháng, vài mét vải/năm; việc mua được xà bông, bột ngọt, những thứ thiết yếu trong đời sống, cũng rất khó khăn. Ở nông thôn, hợp tác xã hay tập đoàn nông nghiệp với cơ chế "dong công phóng điểm" khiến nông dân mất động lực sản xuất. Nhiều gia đình phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, củ chuối qua ngày. Lạm phát phi mã lên đến 774,7% năm 1986, tiền mất giá chóng mặt sau cuộc đổi tiền năm 1985 thất bại. Người dân gọi đó là "thời bao cấp", thời mà mọi thứ đều thiếu thốn, từ lương thực đến hàng tiêu dùng , từ trong ra ngoài , từ dưới lên trên ... đều thiếu đói .
Người dân gian nói câu hài , ngạo tếu cho vui : Xã hội chủ nghĩa XHCN là " xiếp hàng cả ngày " hay câu vè chế giễu mô hình hợp tác xã nông nghiệp làm công điểm , đổi lúa :
" Đi làm hợp tác hợp te ,
Không đủ miếng giẻ mà che cái lồn " ...
Nhưng có thật trong giai đoạn " Thời bao cấp XHCH " từ thàng 5/1975 tới tháng 12/1986 .
Ở nông thôn, tuy làm ra lúa gạo, tôm cá nhưng gần như để ăn, việc bán chác rất khó khăn. Quê tôi ven biển, nhiều người đóng đáy, đi rập được những con cua kình hoặc cua gạch cái xề hơn nửa ký nhưng chỉ để nhà ăn, chứ bán rẻ như cho, bởi chỉ bán quanh quẩn cho người trong vùng. Mẹ tôi mua khoai mì về ăn độn, tôi chỉ bỏ lớp vỏ đen bên ngoài mà không dám lột vỏ lụa, vì vỏ đó vẫn ăn được! Còn ở thành thị, sau này đọc các tài liệu tôi mới ngỡ ngàng về sự sáng tạo: nhiều gia đình cải tạo ban công, nhà vệ sinh vốn chật chội để nuôi heo, nuôi chim cút, nuôi gà..., nhằm cải thiện đời sống. Công nhân viên chức lương tháng không đủ sống, phải làm thêm nghề tay trái như đan lát, sửa xe đạp, may vá...
Ở các cửa hàng mậu dịch, không nói đến chất lượng hàng hóa chưa cao do điều kiện sản xuất thời bấy giờ, cách thức buôn bán và thái độ phục vụ rất kém. Những người bán hàng thường xuyên mặt cau mày có, không chỉ dòng người xếp hàng chờ mua rất đông mà còn vì sự bất cần nữa! Tôi nhớ mãi hình ảnh cái lon đong dầu hôi (quê tôi gọi là "dầu trắng", dùng để thắp đèn; có nơi dùng để đốt bếp lò xô; để phân biệt với "dầu đỏ" (tức dầu diesel) bị bóp méo để giảm dung tích, còn dầu trắng luôn bị trộn thêm dầu đỏ do dầu đỏ giá rẻ hơn. Chính vì vậy, đèn dầu thắp khói nhiều và tim (bấc) mau lụn!
Do giá ở thị trường chính thức và "chợ đen" khác biệt lớn nên tình trạng buôn lậu diễn ra khắp nơi ,dù nhà nước CS XHCN tung lực lượng quản lý thị trường ,cảnh sát kinh tế, công an giao thông ... tả xung hữu đột, hùng hổ ra sức " ngăn sông , cấm chợ " lập công dâng đảng CS quang vinh ?... bất chấp tất cả tình tự con người !
Trong tiểu thuyết "Tiếng rừng" có một chi tiết khiến người đọc khó quên: tay tài xế xe tải dọc đường gặp một cô gái vẫy đi nhờ xe; trên đường đi thấy cô vui vẻ, cởi mở nên anh ta mới ỡm ờ, tay vờ như vô tình đặt lên đùi cô gái ngồi bên, nhưng giật mình vì sau lớp vải không phải là da thịt mà là cái gì đó thô cứng... Bị lộ, cô gái mới thú thật là mình đi buôn lậu cà phê, trên người cô có nhiều chỗ được bọc một túi vải chứa hạt cà phê... Vậy nên trong số những người đi trên các chuyến xe đò tôi kể ở trên biết đâu cũng có người buôn lậu!
- Giải pháp tất yếu: In tiền
“Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra ! In ra ! Không sợ lạm phát ! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát, chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ !”
(TBT CS Lê Duẩn, Theo hồi ký "Đèn Cù" của nhà báo Trần Đĩnh, trang 186-187)
- Trong báo cáo chính trị do TBT CS Trường Chinh đọc ra, tại Đại hội VI Đảng CSHCM vào cuối năm 1986, có nhiều đoạn nhìn thẳng vào sự thật, như "trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế"; "đó là những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế và trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, là tác hại của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp tồn tại nhiều năm trong quản lý kinh tế, dẫn tới sản xuất chậm phát triển, mâu thuẫn giữa cung và cầu ngày càng gay gắt"; "sai lầm trong lĩnh vực phân phối, lưu thông là sai lầm rất nghiêm trọng trong lãnh đạo và quản lý kinh tế 5 năm qua"; "những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện"; "khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan"...
Những sai lầm chủ quan, duy ý chí ... đã đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, suy thoái. Những câu chuyện đời thường ở trên phản ánh rõ nét khủng hoảng sâu sắc: sản xuất đình trệ, trình độ sản xuất nói chung kém, năng suất thấp, nhập siêu lớn, viện trợ từ Liên Sô và Đông Âu giảm sút... Dân chúng đói nghèo, bất mãn lan rộng , thất vọng do sự thay đổi chế độ hà khắc sau 30-4-1975. Những "xé rào", "bung ra" tự phát ở một số địa phương như khoán hộ ở Vĩnh Phú, Hải Phòng ... hay buôn bán tự do ở miền Nam đã báo hiệu nhu cầu cấp bách .
- Tố Hữu và Siêu Lạm phát 774.7% - Khi Nhà thơ chỉ đạo Kinh tế : " Tố Hữu tăng lương không bằng Trần Phương tăng giá ."
Cuộc khủng hoảng siêu lạm phát năm 1986 có nguồn gốc sâu xa từ những yếu kém mang tính hệ thống của nền kinh tế bao cấp, một mô hình đã trở nên không bền vững sau một thập kỷ vận hành thiếu hiệu quả và cạn kiệt nguồn lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm đi trách nhiệm của các cá nhân có thẩm quyền. Tố Hữu, với tư cách là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, người nắm quyền điều hành kinh tế, phải chịu trách nhiệm chính trị trực tiếp, cơ bản và không thể phủ nhận đối với sự kiện cụ thể đã châm ngòi cho sự sụp đổ. Chữ ký của ông ta trên văn bản thực thi cuộc cải cách "Giá - Lương - Tiền" năm 1985 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa. Nền tảng tư tưởng quá giáo điều và sự thiếu kinh nghiệm về kinh tế đã khiến ông ta ủng hộ một giải pháp đơn giản hóa một cách nguy hiểm và mang nặng tính lý thuyết cho một vấn đề kinh tế vĩ mô phức tạp.
Mặc dù lời phê bình chính thức của Đảng CSHCM mang tính tập thể, hệ thống chính trị đã đưa ra phán quyết đối với cá nhân Tố Hữu thông qua việc Tố Hữu không còn được tín nhiệm vào Bộ Chính trị. Tố Hữu đã phải chịu trách nhiệm cho thất bại của ông ta .
Cuối cùng, vai trò của Tố Hữu trong lịch sử có thể được xem là một vở bi hài kịch: ông ta là một tay CS gộc... bảo thủ giáo điều ,kiến thức kinh tế không có căn bản và một nhà thơ gieo nhiều ân oán (Nhân văn - Giai phẩm), người có sự nghiệp chính trị kết thúc bằng việc chủ trì một trong những thất bại chính sách kinh tế tai hại và dỡ hơi nhất trong lịch sử hiện tại . Sau khi bị bãi nhiệm, ông "thơ thẩn" vẫn liên tục phản đối phong trào Đổi Mới. Song trớ trêu thay chính sự thất bại trước đó của ông ta , đã vô tình mở đường những cải cách cho quan niệm kinh tế tư hữu , tư nhân là thành phần cốt lõi ,căn bản của kinh tế tự do theo chủ nghĩa Tư bản .
USSR-NGARUSSIA "GORBYMANIA" MIKHAIL GORBACHEV WITH "PERESTROIKA - GLASNOT".
Tư tưởng "Đổi Mới" của TBT Liên Sô 3-1985 Mikhail Gorbachev định hướng tới Đại hội ĐCSHCM lần thứ VI (15 – 18/12/1986)- CHXHCN Việt Nam .
Đón vị Giáo sư – Trưởng khoa tại sân bay quốc tế Nội Bài vào một trưa mùa hè oi ả năm 1987. Giáo sư đến thăm Viện tôi theo thỏa thuận giữa hai Đại học. Vừa vứt áo com-lê vào chiếc Volga nóng như một lò thiêu, ông phàn nàn ngay: “Sao chú mày không mang về Hà Nội một ít ‘gió’ của ‘tư duy mới’ và ‘Peresroika’? Bức bối như thế này thì tao chỉ sang Hà Nội lần này là lần cuối”. Suốt từ Nội Bài về Nhà Khách Chính phủ ở 12 Ngô Quyền, câu chuyện giữa chúng tôi xoay quanh cơn sốt “Gorbymania” (cuồng Gorbachev) ở nước ông và ông muốn tôi cho biết phản ứng của Hà Nội thế nào. Giáo sư tỏ phấn khích khi tôi nói về “tư duy mới” và ghi nhận chính sách vừa ban bố của Liên Sô đối với châu Á có nhiều điều khá hấp dẫn.
“Gorbymania” ngày ấy và bây giờ…
Tâm lý “mê Gorbachev” (Gorbymania) là hoàn toàn có cơ sở khách quan ở Việt Nam thời bấy giờ. Đại hội ĐCSHCM lần thứ VI (15 – 18/12/1986) là một Đại hội lịch sử, xét cả về mặt nội trị lẫn xây dựng Đảng CSHCM . Rất nhiều tài liệu nước ngoài ghi nhận rằng, chính sách Perestroika (Cải tổ), Glasnot (Công khai), cùng với 2,88 tỷ USD (được quy đổi từ đồng Rúp) tiền viện trợ của Matxcơva đã khiến Hà Nội vững tin hơn để chấn chỉnh có hạn chế cách điều hành kinh tế kiểu cũ, thực chất là bỏ dần các sai lầm tự mình gây ra, về sau được gọi là “Đổi Mới”. CHXHCNViệt Nam vừa thoát khỏi hàng chục năm chiến tranh ác liệt, lại phải đương đầu chống Khmer Đỏ do Trung quốc chống lưng, tiếp theo là đối phó với cuộc xâm lược của chính Trung quốc tại 6 tỉnh biên giới. Trong bối cảnh ấy, ĐCSHCM chỉ còn mỗi hy vọng, dựa vào Liên Sô để triển khai kế hoạch kinh tế 5 năm tiếp theo.
Tuy nhiên, Đại hội VI của ĐCSHCM chỉ mới mở ra một số tiền đề chứ chưa tạo được đột phá nào có tác động tức thì trong chính sách đối ngoại. Các báo cáo chính trị và kinh tế đều nhấn mạnh đến chính sách Đổi Mới. Võ Văn Kiệt dường như là người đi đầu trong việc ủng hộ khái niệm về cải cách, mở cửa để hội nhập. Theo ông Kiệt, nông nghiệp chứ không phải công nghiệp nặng sẽ là quan trọng nhất trong những năm sắp tới. Một ủy viên Bộ Chính trị khác (BCT), tuy chỉ xếp thứ 10 theo vị trí, nhưng đứng thứ 3 trong Ban bí thư, đó là Trần Xuân Bách – một trong những ngôi sao vụt sáng trên chính trường Việt Nam mấy năm trước và sau Đại hội VI. Cùng với Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, về sau thêm tướng Trần Độ, nhóm của Trần Xuân Bách hồi bấy giờ nổi lên như những người đi tiên phong của làn sóng Đổi Mới của Hà Nội.
Tuy nhiên, sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Kiệt – Bách – Thạch ở Việt Nam không thể nào sánh được với sự cố kết và tầm ảnh hưởng của nhóm Gorbachev – Jeltsin – Yakovlev ở Liên Sô. Thất bại của ông Bách cũng là nằm ở chỗ này. Các trợ lý gần gũi các lãnh đạo Hà Nội hồi bấy giờ cho biết, những căng thẳng trong nội bộ Đảng còn bao gồm cả sự cọ xát giữa cá nhân những con người cụ thể, chứ không chỉ đơn thuần về lý luận. Cho tới lúc đó, “đa nguyên” chưa xuất hiện trên báo chí như là một vấn đề mang tính tư tưởng. Tháng 10/1988, nhân có cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội của các nhà khoa học xã hội đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, ông Trần Xuân Bách, với tư cách là uỷ viên BCT phụ trách Khoa – Giáo, đã tới dự và phát biểu khai mạc. Bài phát biểu của ông Trần Xuân Bách bắt đầu chạm tới những vấn đề cốt lõi của lý luận và bị coi như là cột mốc của những “chệch hướng” công khai.
Ông Trần Xuân Bách lập luận, chủ nghĩa xã hội mà Karl Marx dự báo “có những điểm không hoàn toàn khớp với hiện thực bảy mươi năm qua”, trong khi “chủ nghĩa tư bản chứa đựng những mầm mống và tiền đề vật chất – kỹ thuật cho xã hội mới”. Ông Bách cũng cho rằng: “Mô hình chủ nghĩa xã hội sẽ giảm tính thuyết phục, sức hấp dẫn, nếu năng suất lao động thấp hơn chủ nghĩa tư bản, nếu mọi công dân không thực sự có quyền tự do dân chủ... Ông Bách kêu gọi: “Các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần sử dụng đúng đắn quyền dân chủ và tự do sáng tạo của mình để nghiên cứu sâu sắc hơn, đề xuất với Đảng những ý kiến mới và cụ thể hơn liên quan đến thời kỳ quá độ… Khoa học xã hội có nhiệm vụ làm cho mọi người ý thức đầy đủ quyền tự do dân chủ của họ, giúp họ thực hiện quyền đó”.
Sau gần 35 năm vật đổi sao dời, hai tư tưởng cốt lõi nhất của Gorbachev được Trần Xuân Bách chuyển tải là tự do và dân chủ vẫn là điều cấm kỵ trong xã hội toàn trị ở Việt Nam và Liên bang Nga ngày nay. Tự do là gắn đến con người tự do và sáng tạo. Dân chủ gắn đến thể chế bảo đảm cho con người các quyền tự do ấy trong một nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự. Nếu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng vẫn còn sống đến ngày hôm nay, những người này vẫn sẽ hè nhau triệt tiêu “ánh sáng Trần Xuân Bách” để cứu Đảng CS, mà thực chất là giành và giữ mấy cái ghế của họ. Những người này và phe cánh họ vẫn căm Gorbachev, mặc dầu con tàu “Đổi Mới” lúc vừa xuất phát vẫn phải khởi động bởi năng lượng từ “Perestroika” và “Glasnot”. Không có Gobachev cùng với động lực từ “Cải tổ” và “Công khai” thì đã không có “Đổi Mới”. Cơn sốt “say mê Gorby”, “say mê tư duy mới” cũng từ đó mà ra.
“Gorbachev qua đời, vì sao dân Việt kẻ khen người chê”, phần nào cảm nhận được ngày nay ở Việt Nam vẫn chưa hết “cơn nghiện Gorby”. Một trong hàng trăm cái “tuýt” thật đáng đọc: “Gorbachev là một người đáng khâm phục nhất của thế giới ngày nay. Vì lúc đó ông là một người quyền lực nhất quả đất (có thể nói là con người số một thời điểm đó), nhưng đã sẵn sàng gạt bỏ cái tôi. Mục đích là đưa thế giới xích lại gần nhau hơn, tránh được chiến tranh lạnh, hạn chế chạy đua vũ trang để đầu tư vào phát triển kinh tế, phục vụ đời sống của nhân dân... Gorbachev là một người hùng đáng để cả nhân loại vinh danh. Nếu như ở VN ta có nhiều người vì lợi ích của nhân dân mà từ bỏ quyền lực thì là diễm phúc cho dân ta quá. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra. Họ là những người bị cả nước lên án nhưng vẫn cố bám ghế đến cùng! Bad guy!”
Từ trời Tây, tạp chí “Economist” bình luận: Mikhail Gorbachev đã giải phóng cho hàng triệu người, ngay cả khi ông không có ý định làm như vậy. Tuy nhiên, những bạo chúa thời nay lại coi cuộc đời và sự nghiệp của Gorbachev như một câu chuyện cần cảnh giác. Một đế chế được xây dựng trên sự dối trá và bạo lực không đáng để cứu giúp. Mikhail Gorbachev, nhà lãnh đạo CS Liên Sô , một ông Bụt sống của nhân loại ... đã qua đời ở Matxcơva ở tuổi 91, hiểu rõ điều đó hơn tất cả. Vì điều này, ông xứng đáng được tôn vinh, đặc biệt là nhờ có ông, hàng trăm triệu người đã sống trong tự do và hòa bình hơn kể từ khi ông đã khiến đế chế Liên Sô sụp đổ và do đó kết thúc Chiến tranh Lạnh. Bi kịch là rất nhiều người, kể cả các chính khách, đã quên những bài học trong câu chuyện phi thường của ông, hoặc rút ra những kết luận sai lầm chính xác từ chúng.
Di sản Gorbachev có giá trị gì đối với ban lãnh đạo CSHCM ngày nay, ngoài những lời tụng niệm phải cảnh giác, ngăn chặn đừng để “tư tưởng Peresroika – Glasnot” len lỏi vào hàng ngũ lãnh đạo của CSHCM ? Đại hội VI CSHCM (từ ngày 15 đến 18-12-1986) thừa nhận sai lầm, quyết định đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Từ cơ chế bao cấp chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đó là bước ngoặt Đổi mới, từ 18-12 năm 1986 theo TBT Liên Sô Mikhail Gorbachev khai mở định hướng . Nhưng thực ra là quay lại một trong những con đường của quy luật tự nhiên : Quy luật khách quan của phát triển kinh tế tư hữu - tư nhân tự do cung cầu trong xã hội Tư bản xưa và nay ! Cũng nhớ lại ngày xưa : Trong thời kỳ 20 năm của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam ,đã xây dựng nền móng căn bản của nền kinh tế tư hữu , tư nhân theo thị trường tự do cung cầu .
Trong khi , TBT CS Nguyễn Phú Trọng lại hết sức đau đầu trước hai vấn nạn lớn: kiểm soát quyền lực và đấu tranh chống tham nhũng. Nguyễn Phú Trọng muốn giải quyết hai vấn đề này mà không phải thay đổi thể chế, tức là không phải thay mô hình đảng trị (party rule) bằng pháp quyền (rule of law). Nhưng ông cũng biết rằng, quyền lực nếu không bị kiểm soát, sẽ tiếp tục đẻ ra tham nhũng, do quản trị yếu kém và thiếu minh bạch. Đó là nguyên nhân chính làm kinh tế thị trường “định hướng XHCN” bị méo mó, đi trệch đường ray phát triển.
Từ mô hình phát triển để “hóa Rồng – hóa Hổ” CHXHCNViệt Nam đang biến thành “Mèo vờn Chó”, với mô hình "Lưỡng tính" Xăng pha Nước - Rất dễ dàng , để lý giải . Thất bại là ở chỗ đó : Duy Ý Chí CS In Wrong Way !
Đó là bài học đắt giá từ những diễn biến tiêu cực trong mấy thập kỷ qua, làm triệt tiêu thành quả Đổi Mới từ thập kỷ thời Gorbachev – Trần Xuân Bách. Và giờ đây, Việt Nam vẫn đang sa lầy giữa ngã ba đường ý thức hệ.
NgaPutin không quốc tang, CHXHCNViệt Nam chẳng chia buồn ? May mà còn có mấy lời ai điếu cảm động từ các nguyên thủ châu Âu và Hoa Kỳ. Đó mới đúng là những chính khách lịch lãm và có văn hóa … tưởng nhớ tới ông Bụt sống nhân đạo với lòng nhân ái vô biên : Tổng Bí Thư CS Liên Sô-NgaRussia (CCCP) Mikhail Gorbachev !
NGHE KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA ... THỜI BAO CẤP XHCN .
Năm 1981 đã có cuộc vận động sáng tác bài Quốc ca mới thay cho bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao .
Tôi vẫn nhớ cuộc vận động này ( năm 1981 ) có nhiều nhạc sĩ ,nhà thơ tham gia .Nhiều nhạc sĩ tham gia sáng tác cả nhạc và lời .Một số bài được phát trên đài TNVN.Còn các nhà thơ chỉ sáng tác phần lời ,được đăng báo .Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng tham gia , báo Nhân Dân đăng bài của ông dài khoảng 10 câu thơ .
Kết quả là không có bài nào vượt được bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao. Cuộc vận động sáng tác quốc ca năm 1981 thất bại .Tiến quân ca sống sót .
Bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao ngày 13/8/1945 được Quốc dân đại hội Tân Trào chọn làm Quốc ca nước VNDCCH .Ngày 1/7/1976 được chọn làm Quốc ca CHXHCNVN .
Trở lại câu chuyện cuộc vận động sáng tác Quốc ca năm 1981 .
Người đưa ra ý tưởng thay đổi Quốc ca ( bỏ bài Tiến quân ca ) phải là người ở cương vị lãnh đạo quốc gia cao nhất .
Vào năm 1981 thì đó là các vị Lê Duẩn và Trường Chinh .Tôi nghiêng về phía Trường Chinh vì ông là nhà thơ với bút danh Sóng Hồng. Vụ này Trường Chinh đã thất bại ?
Văn Cao thoát chết !
-Thứ nhất là loạn quốc ca
Thứ nhì loạn giá, thứ ba loạn tiền
Thứ tư là loạn ưu tiên…
Nguyen Mutat
Dạo ấy còn có câu đồng dao...
Thứ nhất là loạn quốc ca.
Thứ nhì loạn gạo, thứ ba loạn tiền
- Bài Tiến Quân ca có nhiều đoạn nhạc và thậm chí cả lời rất giống với bài Quốc ca Pháp "La Marseillaise".
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:La_Marseillaise.ogg
Nhượng Nguyễn Khắc
Nếu đúng là các vị lãnh đạo cao nhất của chế độ như Lê Duẩn, Trường Chinh muốn thay bài Tiến Quân Ca của Văn Cao bằng một bài quốc ca khác thì đến Trời cũng chẳng cản được vì với thể chế toàn trị này lãnh đạo quyết sao thì tuân vậy thôi. Việc tổ chức thi tuyển quốc ca mới rồi ngưng có lẽ vì một lý do nào khác chứ không phải do sự biểu quyết mang tính "dân chủ" đâu bác Bùi Công Tự ạ.
-Hồi đó Xuân Thủy làm trưởng ban sáng tác quốc ca , sau ban đó tự giải tán.
-Tôi cũng nghĩ Trường Chinh và Tố Hữu chủ xướng việc thay Tiến Quân Ca của Văn Cao bằng 1 sáng tác mới hoàn toàn. Việc này vừa mang ý nghĩa "chuyển giai doan" sang "cả nước tiến lên CNXH", vừa không muốn "dính đến Văn Cao"! Nhưng khi cuộc vận động sáng tác quốc ca mới thất bại, thì phần lời của Tiến Quân Ca Văn Cao được sửa một số câu như ngày nay ta vẫn sử dụng. Bởi thế, Quốc ca VN hiện nay phải coi là "nhạc Văn Cao. Lời Văn Cao và Quốc hội khóa V" mới chính xác.
Quang Minh Vu
-Bạn không biết những chi tiết quan trọng: Trường Chinh là Trưởng ban sáng tác quốc ca mới lúc đó ! Và cũng chính Trường Chinh là trưởng ban chỉ đạo "đánh" phong trào "Nhân văn Giai phẩm" năm 1958 mà Văn Cao là một thành viên tích cực của phong trào này. Rồi sau này, lại cũng chính Trường Chinh là người bật đèn xanh cho cái gọi là "đổi mới" ở Việt nam năm 1986, nhưng thực ra là quay lại một trong những con đường của qui luật tự nhiên: qui luật khách quan của phát triển kinh tế.
Huy Hoang Le
-hồi đó có lần Văn Cao đi chơi bị công an giả dạng côn đồ hành hung ,chúng ta biết tố là người phụ trách văn hóa văn nghệ,vậy thì hành hung Văn Cao phải có chỉ đạo ,về sau ông chỉ ngồi trong nhà không đi đâu nữa
Thi Đào
- Trường Chinh là người đứng đầu trong vụ đánh Nhân văn Giai phẩm. Mà Văn Cao thì dính Nhân văn Giai phẩm. Sau Trường Chinh ,là Tố Hữu cũng là người đặc biệt ghét Văn Cao và Nhân văn Giai phẩm.
-Người đưa ra ý tưởng thay thế quốc ca là ông Trường chinh
Nhớ lại hồi đó sinh viên chúng tôi sáng nào cũng rủ nhau nghe đài phát các bài dự thi
Chúng tôi chẳng ai thấy bài nào ra hồn nhưng đều ý tứ không nói
Nghĩ lại cũng vui !
Cám ơn bạn nhiều!
-Vào những năm đó và khoảng 20 năm sau, thì mới có “môi trường” để sản sinh ra những ca khúc bất tử và đi vào lòng người như bài Tiến quân ca!
Còn về sau này, nhất là hiện nay, làm gì mà có “bụng dạ , tâm trí” nào để sáng tác được những tác phẩm hay như thế nữa…
Có lẽ, nếu sửa, chỉ nên sửa lại lời bài hát 1 chút, đặc biệt là nên thay câu “Đường vinh quang xây xác quân thù”…
Gửi ý kiến của bạn