NHỮNG NGÀY XƯA GHI DẤU SỬ XANH : 3 THÀNH QUẢ MUÔN ĐỜI CHO LƯƠNG TÂM-TRÁCH NHIỆM-YÊU NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ DÂN SỰ TRẦN TRỌNG KIM TRONG 4 THÁNG (17-4-1945 TO 19-8-1945)

23 Tháng Tám 20253:31 CH(Xem: 503)
Tóm lược thành quả của chính phủ Trần Trọng Kim, nhà nghiên cứu sử Chính Đạo (Vũ Ngự Chiêu) viết: “….chỉ trong vòng 4 tháng và dưới những điều kiện cực kỳ khó khăn, chính phủ Trần Trọng Kim đã xúc tiến những bước quan trọng để tiến tới một nền độc lập cho VN, Việt hóa một phần tổ chức hành chính thời thực dân Pháp, và thương thuyết để thống nhứt lãnh thổ chính thức trước khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945.” (The other side of Vietnamese revolution”, page 14).
1– Cứu đói 1945
Đây là việc làm tích cực của chính phủ, kêu gọi lòng vị tha, nhường cơm xẻ áo thực sự của người giàu. Nạn đói kéo dài từ cuối năm 1944 đến đầu năm Ất Dậu 1945, làm cho VN thêm kiệt quệ, bi thảm. Bao nhiêu tài lực, vật lực đều bị cả Pháp lẫn Nhựt kình chống nhau thu giữ. Đối với chính quyền Nhựt, thủ tướng Trần Trọng Kim đã yêu cầu Nhựt hủy bỏ luật bắt buộc những điền chủ có 3 mẫu ruộng, phải bán lúa cho Nhựt. Thứ hai là khắp cả ba kỳ đều có phong trào “cứu tế”. Tại Bắc bộ, ông Nguyễn Văn Tố, được cử làm Hội trưởng hội “cứu tế miền Bắc”, từ ngày 24/3 đến 24/5/45, thu được số tiền 782.403 đồng, chi ra 593.836 đồng. Theo lịnh chính phủ trung ương, những người quá đói, tha phương cầu thực, được tập trung vào các trại đặc biệt để phát chẩn. Tại Trung bộ, có “Ủy ban trung ương tiếp trợ nạn nhân miền Bắc”, văn phòng đặt tại số 43 đường Paul Bert, do bà Từ Cung làm chủ tịch. Tại Nam bộ, chỉ nội tháng 5, hơn 20 hội chẩn tế ra đời, và trong vòng một tháng, các tổ chức trên quyên được 1 triệu 677 ngàn 886 đồng, mua và chuyển chở 1.592 tạ gạo ra Bắc cho nạn nhân vụ đói “ (Dẫn lại của Vũ Ngự Chiêu “The other side……., trang 96).
Riêng chính quyền trung ương, chính phủ cử ông Bộ trưởng Tiếp Tế là Nguyễn Hữu Thí vào Sàigòn, xúc tiến công việc tải gạo ra bắc. (Vũ Ngư Chiêu, sách đã dẫn, trang 94) Dưới đây là bài phỏng vấn ông Ngô Tiến Cảnh, ủy viên của Ban cứu tế trung ương Hà Nội vừa tới Sàigòn.
“…Chúng tôi vừa tới khách sạn Catinat, thì vừa may gặp ông Ngô Tiến Cảnh ở cầu thang bước xuống. Tuy vội vàng, ông cũng vui lòng tiếp chuyện chúng tôi mười phút ngay nơi phòng khách của khách sạn. Muốn khỏi mất thì giờ, chưa ngồi xuống, chúng tôi hỏi ngay:
– Thưa ông, tình trạng cứu trợ tại miền Bắc ra sao? Xin ông làm ơn nói cho rõ?
Ông Ngô Tiến Cảnh trả lời chúng tôi một cách rõ ràng, khúc chiết:
– Ngay từ đầu tháng Chạp năm ngoái (1944), những người nghèo khổ ở bốn tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, đã bắt đầu bỏ làng, vợ chồng con cái bồng bế đi tha phương cầu thực. Trong những bọn đó, đã thấy có đôi ba người đói chết ở dọc đường. Những thảm cảnh ấy diễn ra hàng ngày càng nhiều, nhứt là từ hồi đầu tháng Hai ta. Mỗi làng trong 4 tỉnh vừa kể trên, mỗi ngày có đến năm chục người chết. Nguyên trong thành phố Hà Nội, cả ngày có từ 500 đến 700 người chết. Trung bình, ở Hà Nội, Nam Định, Vinh và Hà Tĩnh, mỗi ngày gần 5000 người chết đói. Có người ngả ra đám cỏ nhặt lấy nhai nuốt……Trong bụng người chết có khi có cả nút chai, da giày, rơm khô vì họ ăn cả những đồ cho ngựa ăn….” (Trích báo “Sàigòn, đặc biệt cứu tế” số ra ngày 20/5/45, đính kèm).
Tại Nam bộ, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, được bầu làm chủ tịch “Hội chẩn tế miền Nam”, hoạt động tích cực trong giới thương gia, điền chủ, các Hoa kiều buôn bán, cho nên chỉ trong một tháng, thâu được một số tiền rất lớn để mua gạo chở ra Bắc. Tổ chức Thanh Niên Tiền Phong, đã tham gia công tác khó khăn và nguy hiểm để chở gạo ra cứu đói miền Bắc. Hồi ký chính trị Nam Đình viết:
“Hễ mỗi sáng, nhiều đoàn máy bay từ hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi Thái Bình Dương, bay vào VN, đón đoàn xe lửa và xạ kích quân lính Nhựt. Máy bay thật thấp: họ xỉa liên thinh bắn vào từ cửa xe lửa. Nhiều đoàn xe chở đầy gạo bằng xe lửa không thể thực hành được. Còn nói đến xe hơi vận tải, thì chủ xe đòi “giá cắt họng”. Họ viện lẽ “cồn” (alcohol) mắc, và một khi ra đi không chắc trở về nguyên vẹn chiếc xe. Biết đâu xe không bị bắn dọc đường, ở đèo Hải Vân chẳng hạn, xe lật xuống hố?
“……..Thế cho nên mặc dầu xe lửa bị bắn hàng ngày, Thanh Niên Tiền Phong vẫn sẵn sàng hy sinh, tình nguyện hộ tống những “toa chở gạo”. Xe lửa chạy ban đêm. Hễ sáng lại, họ tìm những nơi nào có cây cao bóng mát, kéo những toa gạo vào đó mà giấu máy bay. Chờ trời chiều, gần tới, lại kéo ra tiếp tục lên đường. Những anh em Thanh Niên Tiền Phong không nài cực nhọc, quyết lãnh sứ mạng đưa gạo ra Bắc cứu đói. Ngoài xe lửa, còn có ghe bầu. Ban tổ chức nghĩ rằng chở gạo theo xe lửa, tự nhiên bị máy bay oanh tạc, vì quân lính Nhựt thường núp theo những toa chở gạo. Máy bay Mỹ không cố tính bắn vào gạo làm chi. Họ bắn lính Nhựt mà thôi, mà lính Nhựt núp trong toa chở gạo! Bởi vậy ban tổ chức tính chở gạo bằng ghe, mặc dầu đi đường biển hiểm nghèo hơn. Họ chịu sóng gió mà tránh được nạn máy bay. Máy bay Mỹ không bắn ghe bầu chở gạo. Nhờ vậy Thanh Niên Tiền Phong hộ tống được nhiều ghe gạo ra tới Bắc”. (Hồi ký “Tài liệu lịch sử 1945 – 1954) của Nam Đình, trang 65, 66).
Thiện chí của chính phủ Trần Trọng Kim thật nhiều, gạo ở miền Nam ê hề. Nhiều nhà máy điện ở Sàigòn dùng lúa đốt chạy máy thay thế xăng dầu. Trong khi đó, quá nhiều công việc khó khăn, nguy hiểm như kể trên. Tham vọng của Pháp muốn chiếm lại Đông Dương, thái độ ích kỷ của người Nhựt trong thời kỳ đó, là những yếu tố bất lợi khách quan cho dân tộc VN, nhưng được Việt Minh tận tình khai thác như một cơ hội bằng vàng để phát triển lực lượng, chờ thời cơ cướp chính quyền.
Dân miền Bắc chết đói hàng triệu người, Việt Minh không cứu trợ, lại phá hoại công cuộc cứu tế của chính phủ. Thứ nhứt họ phao tin đồn nhảm rằng các vị cầm đầu những hội cứu tế như bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là gian lận tiền bạc. Họ bịa đặt, dựng đứng các câu chuyện xấu xa, gán ghép cho những người làm việc vì thiện chí, khiến các thân hào nhân sĩ miền Nam chán nản. Trong khi ấy, Việt Minh nỗ lực tuyên truyền, hư trương thanh thế (khoác lác về thế lực). Họ lôi kéo được quần chúng nông dân nghèo theo họ bằng miếng ăn. “Hãy phá kho thóc giải quyết nạn đói” là khẩu hiệu của Việt Minh hô hào dân chúng miền Bắc xuống đường. Hàng hàng lớp lớp, hàng ngàn, hàng chục ngàn với dao mác, gậy gộc làm võ khí, kéo vào cướp phá các lẩm lúa của Pháp, của Nhựt, của nhà giàu ở miền Trung du Bắc Việt. Họ hò hét, hô những khẩu hiệu đả đảo…. tất cả trở thành một đội quân ăn cướp, không kỷ luật, sức mạnh nào đàn áp được. Việt Minh cố tạo ra một tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ để dễ dàng cướp chính quyền. Việt Minh khai thác lòng căm thù đối với Pháp Nhựt, đối với chính phủ và nhân viên chính phủ thì họ gọi là “bù nhìn”, là “thân Nhựt”, là “tay sai của Nhựt”…….
Nhưng Việt Minh rất quỷ quyệt. Trong khi hô hào quần chúng xuống đường phá các kho thóc, cướp gạo, thực phẩm, thì họ chia cho dân chúng một phần nhỏ, còn bao nhiêu đem giấu, chở lên chiến khu Tân Trào nuôi cán bộ đang thiếu ăn trên rừng. Tới nay ít người biết thủ đoạn của Việt Minh trong hành động nầy.
2- Chính phủ Trần Trọng Kim thống nhứt đất nước trước “cách mạng tháng Tám 45.” “Việc thu cả ba Kỳ về quyền trung ương để thống nhất đất nước như khi chưa bị bảo hộ của nước Pháp, là việc rất trọng yếu của chính phủ chúng tôi.” (Trần Trọng Kim “Một cơn gió bụi”, trang 62- 63).
Sau khi tuyên bố độc lập ngày 11/3/45, hoàng đế Bảo Đại nêu vấn đề thống nhất lãnh thổ với đại sứ Yokohama…. ông nầy trả lời rằng: “Xin hoàng thượng hãy nhẫn nại. Tình hình quân sự hiện giờ làm cho nước Nhựt phải đặt Nam kỳ như một vùng chiến lược, và phải nắm quyền cai trị xứ đó. Nhưng khi Nhựt đã thắng trận, sẽ giao trả lại cho VN” (Nguyễn Long, Thành Nam “PGHH trong dòng lịch sử dân tộc”, Đuốc Từ Bi xuất bản, năm 1991, trang 340).
Trước tiên Nhựt chịu trả Bắc bộ, nhưng vẫn giữ lại 3 thành phố nhượng địa của Pháp cũ: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Khi lấy lại Bắc bộ, triều đình cử ông Phan Kế Toại làm khâm sai, và tại Trung bộ, ông Nguyễn Đình Ngân, Tham Lý VaÏn Thọ viên, làm “Trung kỳ hành chánh thanh tra” (Dụ số 21 của hoàng đế Bảo Đại ký ngày 17/5/45.) (Xem báo “L’Action”, bản sao đính kèm ).
Ngày 14/6/45, nhân lễ “Hưng Quốc Khánh Niệm”, triều đình Huế tổ chức cuộc chạy tiếp sức của thanh niên từ Huế ra Hà Nội, đem “Việt Nam Thống Nhất đại khánh đạo dụ” ra Hà Nội. Đây là lần đầu tiên của Bắc và Trung bộ kể như thống nhứt, dân chúng tỏ vẻ phấn khởi vui mừng. Tờ báo “Dân Mới” số ra ngày thứ tư 20/6/45 đăng tin như sau:
“Nhọ mặt người, ngày 14/6 năm “Độc lập” thứ nhất, một đoàn thanh niên chạy xe máy, chạy lối Hoa Kỳ, đem một đạo dụ về tới phủ Khâm Sai Thăng Long.
Trước khi Đạo dụ vào tới nội địa thành phố, đã có nhiều thuộc viên ở phủ Khâm Sai gọi điện thoại cho các đồng liêu ở các sở, đã có nhiều bạn trẻ loan truyền ra ngoài, đã có nhiều người biết. Biết rằng thế nào từ giờ tới chiều, “Đạo dụ Việt Nam thống nhất” cũng ra tới đây. Biết thế, bao nhiêu cờ đỏ của nước mới, đều chôn chân trước phủ Khâm Sai đông không kém một cuộc biểu tình……
“….Ấy thế, Đạo dụ tới, quan Khâm Sai họ Phan, khấu đầu làm lễ tiếp dụ. Ấy thế rồi cái đoàn thanh niên chạy “dụ” kia, lui ra về, lòng mừng nổi lên bài hát “Anh em ơi!…….”. Thế là từ phút ấy, cái tin “Việt Nam thống nhất”, đã trở nên một việc nằm nơi đầu lưỡi tất cả công dân nước mới. Một cái kinh thành nầy, đêm ấy tưởng có loạn. Loạn vui.
“Cảm động biết là bao, khi ở nhiều gia đình tằn tiện, bữa cơm tối ấy, người ông định mua có một chút rượu ăn mừng vận nước, thì các người con lại đòi góp tiền vào cho thành hẳn một chai lớn. Tin tức đẹp như thế, phải uống chứ!
“Cảm động biết là bao, khi nhiều gia đình người Bắc, người Nam, người Trung lốc cốc tới báo tin cho nhau, thăm nhau, ôm nhau mừng và tủi rằng “bây giờ chúng ta mới lại trở nên một khối”……(Trích báo “Dân Mới” 20/6/45, xuất bản tại Hà Nội).
Như vậy, rõ ràng đến ngày 11/6/45, lễ “Hưng quốc khánh niệm” tại Huế trở thành lễ Việt Nam thống nhứt (Bắc và Trung).
Ngày 13/7/45, thủ tướng Trần Trọng Kim ra Hà Nội thương thảo lấy lại 3 thành phố nhượng địa. Toàn quyền Nhựt đồng ý trao Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho triều đình VN ngày 20/7/45. Bảy ngày sau, thủ tướng Kim bổ nhiệm:
– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội (thị trưởng)
– Vũ Trọng Khánh: Đốc lý Hải Phòng.
– Nguyễn Khoa Phong: Đốc lý Đà Nẵng. (Chính Đạo “VN Niên biểu, trang 222,tập IA).
Tại Hà Nội, tân thống sứ Nhựt Nishimura có triệu tập tất cả quan lại VN vào ngày 20/3/45, đề cao quân đội Thiên Hoàng, giải phóng các dân tộc Đông Dương. Các quan lại VN tới dự phiên họp nầy gồm:
– Thân Trọng Hậu: Tuần phủ Bắc Giang
– Thân Trọng Yêm: Tuần phủ Bắc Ninh
– Hồ Đắc Điềm: Tổng đốc Hà Đông
– Dương Thiệu Tường: Tổng đốc Hải Dương
– Trần Lưu Vy: Tuần phủ Hưng Yên
– Từ Bộ Thức: Tuần phủ Nam Định
– Đào Trọng Hương: Bố chính thay Tuần phủ Ninh Bình
– Đàm Duy Huyến: Tuần phủ Hà Nam
– Nguyễn Bạch: Tuần phủ Phú Thọ
– Nguyễn Huy Xướng: Tuần phủ Sơn Tây
– Phan Kế Toại: Tổng đốc Thái Bình
– Nguyễn Trọng Tấn: Tuần phủ Vĩnh Yên
– Trần Lưu Mậu: Tuần phủ Kiến An
– Cung Đình Vận: Tuần phủ Thái Nguyên
– Bùi Văn Thiếp: Tuần phủ Phúc Yên
– Đặng Vũ Niết: Bố chánh
– Đỗ Quang Tiệp: Bố chánh.
Từ đó về sau, mọi việc nội trị đều thuộc quyền Khâm sai, (27/4/45).
Tân thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai, được bổ nhiệm hơi muộn, nhưng đã tích cực triệt hạ ảnh hưởng văn hóa Pháp như: đổi tên “Vườn hoa cóc phun” thành công viên Ba Đình, triệt hạ tượng “Đầm xòe” tức Liberté ở cửa Nam……
Ngày 3/8/45, thủ tướng Kim từ Hà Nội về Huế báo tin lên hoàng đế Bảo Đại “Nhựt đồng ý trao trả Nam bộ cho triều đình”. Mãi đến ngày 14/8/45, cố vấn Yokahama mới tuyên bố trao trả Nam bộ cho VN để thống nhứt. “Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước 1862 (Hòa ước Nhâm Tuất 1862 nhường Nam Kỳ cho Pháp), và 1884. Bổ nhậm Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam bộ (Dụ số 108 ngày 14/8/45).
Để thấy rõ chính phủ Trần Trọng Kim hoạt động tích cực cho việc thống nhứt đất nước, xin độc giả đọc một đoạn hồi ký của tác giả Nam Đình, người có mặt tại Huế lúc ấy: “Chính phủ Trần Trọng Kim mấy lượt đến văn phòng viên đại sứ Yokohama, yêu cầu giao Nam Kỳ lại cho VN (thời gian từ 8/8 đến 14/8/45), đặng thống nhứt lãnh thổ, họ vẫn làm ngơ.
“Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim đã dự bị rất chu đáo: Nguyễn Văn Sâm đã túc trực tại Huế gần 3 tuần rồi. Những chỉ thị và Dụ đặt Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam bộ, cũng đã làm xong, giờ chỉ còn chờ……giờ lên đường về Nam.”
Thủ tướng Trần Trọng Kim chờ đợi từng giờ…..
Tình hình chính trị càng lúc càng rối ren thêm……
“Công cuộc thống trị của Nhựt rất quỷ quyệt và ích kỷ sau khi lật đổ chính quyền Pháp ở đây, họ áp dụng triệt để chương trình của Pháp...Thủ tướng Trần Trọng Kim đến gõ cửa có vấn Yokohama liền liền. Rồi ngày này sang ngày nọ. Mỗi lần đi về thủ tướng Trần Trọng Kim không quên cho Nguyễn Văn Sâm hay.
“Mười giờ sáng (14/8/45), Yokohama trả lời: “Thủ tướng Trần Trọng Kim lập tức về cho Nguyễn Văn Sâm hay. Tức thì hành lý cất lên chiếc xe Ford P.I……..Hai giờ chiều Khâm sai Nam bộ lên đường, đem chiếu nhà vua về Nam……” (Trích “Tài liệu lịch sử 1945/1954”, Hồi ký Nam Đình, trang 185, chúng tôi hiện có trước mặt tham khảo.)
Ngày 14/8 chánh phủ Nhựt ra lịnh cho đặc sứ Yokoyama trả Nam kỳ đặng thống nhứt lãnh thổ VN……
3 - Trong thời kỳ đầu 1945 khi chính phủ chưa thành hình, mỗi miền đều biểu lộ ý thức, dân tộc tính riêng: miền Bắc thích gọi mình là “Đại Việt”, tên nước ta dưới thời nhà Trần, Lê, còn người dân miền Nam thích dùng hai chữ “Việt Nam”. Người gọi Việt Nam là “Empire du Việt Nam” (Đế quốc Việt Nam).
Khi chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt quốc dân (17/4/45), thì cả nước thống nhứt dùng hai chữ Việt Nam. Mãi đến ngày 2/6/45, mới có quốc kỳ chính thức là cờ quẻ Ly trong kinh Dịch, và quốc ca là bài Đăng đàn cung. Miền Nam trước đó, vẫn hát bài “Tiếng gọi Thanh Niên”, đã được hát trong cuộc biểu tình ngày 18/3/45, trước vườn Ông Thượng (Tao Đàn). Việc kế tiếp là đổi tên đường phố, công viên, tượng đài kỷ niệm mà thực dân Pháp đặt ra ở xứ nầy. Đốc lý Hà Nội hạ bệ tượng Paul Bert, Jean Dupuis, thì CS lại dựng tượng Lenin, thì ai là vong bản, ai phản quốc?
Tại Thuận Hóa (Huế) Lê Thái Tổ thay thế tên đường Jules Ferry, Trần Hưng Đạo thay cho Paul Bert… Ngoài ra chính phủ Trần Trọng Kim còn mở một chiến dịch đề cao các danh nhân, anh hùng liệt nữ có công với đất nước. Cũng chính chính phủ Trần Trọng Kim là người đặt viên đá đầu tiên trong vấn đề cải tổ giáo dục: mở khoa thi trung học bằng tiếng Việt đầu tiên. Bộ trưởng giáo dục Hoàng Xuân Hãn, cùng các công sự trong hoàn cảnh khó khăn, chỉ tập họp một số nhân tài ở Huế như các giáo sư Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiết, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… soạn ra chương trình trung học mới, hoàn toàn bằng tiếng Việt (xem quyển Nguyễn Quang Thắng “Khoa cử và giáo dục VN”, trang 316).
Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt nầy, tuy cải tổ trong một thời gian ngắn kỷ lục, nhưng ảnh hưởng sâu rộng đến mấy chục năm sau. Nhờ đó, sau CS mới có phương tiện để phát động chương trình “bình dân giáo dục” tiếp theo .
–Về thông tin báo chí, chính phủ Trần Trọng Kim đã mở đường cho tự do ngôn luận, tự do thông tin, nghị luận. Báo chí nở rộ từ Nam chí Bắc, công khai bộc lộ tinh thần yêu nước, đối kháng với thời kỳ nô lệ, mất chủ quyền.
Chế độ thực dân cai trị trên đất nước đã 80 năm, để lại nhiều tàn tích sỉ nhục miệt thị cả một dân tộc. Các địa danh “Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ”, là những từ ngữ có tính cách kỳ thị, chia để trị của thực dân. Đổi tên nước từ “An nam” thành Việt Nam là biểu thị thái độ của dân tộc, nhắc nhở đến thời kỳ độc lập .
Dù chỉ có quyền điều hành đất nước Việt Nam trong 4 tháng từ 17-4-1945 tới 19-8-1945 . Nhưng nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim đã hoạt động tích cực và đạt được 3 thành quả lưu truyền đến ngày nay vẫn còn hiện hữu . Tinh thần Lương Tâm - Trách Nhiệm - Yêu Nước + Chương trình chở thuyền gạo từ Nam ra Bắc tương trợ , cứu đói cho dân miền Bắc Việt Nam + Khôi phục chủ quyền Việt Nam với Nam Kỳ Lục Tỉnh ; Hà Nội ; Hải Phòng ; Đà Nẵng . + Thay thế tên đường tiếng Pháp qua tên những Anh hùng Dân tộc Việt Nam ngày xưa và sử dụng chữ Quốc ngữ Việt Nam trong học đường-công sở- giao thiệp và phát triển tổ chức Thanh Niên Tiền Phong Việt Nam là rường cột nước nhà .
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn