Tình hình quân sự tại mặt trận càng ngày càng khẩn trương, Tướng Ngô Du cần phải thỏa mãn gấp điều kiện của Paul Vann, nhưng ông chỉ thỏa mãn 50%. Ông đề nghi. Tổng thống Thiệu bổ nhiệm Đại tá Lý Tòng Bá làm Tư lịnh Sư đoàn 23BB và Đại tá Lê Đức Đạt làm Tư lịnh Sư đoàn 22BB. Sở dĩ Tướng Ngô Du đề nghi. Đại tá Lê Đức Đạt là vì Đại tá Đạt đang là Tư lịnh phó Sư đoàn 22BB, lên thay thế Tư lịnh sư đoàn là hợp lý. Hơn nữa, Đại tá Đạt rất thân với Đại tướng Cao Văn Viên, nên ông nghĩ rằng khi Đại tá Đạt lên làm Tư lịnh tại mặt trận thì Đại tướng Viên sẽ yểm trợ tối đa cho Đại tá Đạt. Paul Vann rất giận Tướng Ngô Du đã không đề nghi. Đại tá Lê Minh Đảo trong chức vu. Tư lịnh Sư đoàn 22BB.
Đại Tá Lê Đức Đạt
Đại tá Đạt làm Tư lịnh tại mặt trận Tân Cảnh được một tuần lễ thì Cộng quân bắt đầu chạm súng lẻ tẻ với QLVNCH tại nhiều nơi. Đại tướng Cao Văn Viên liền tăng cường cho Đại tá Đạt một Lữ đoàn Dù. Tướng Ngô Du đã thổ lộ trên trực thăng chỉ huy của ông là Paul Vann là một người Mỹ rất hăng say muốn giúp VN, nhưng không thông cảm cho hoàn cảnh và tình cảm của người VN.
Mặt trận bùng nổ :
Theo tin tức khai thác được của các tù binh CS thì mặt trận sẽ bùng nổ lớn vào trung tuần tháng 3/1972, nhưng Bộ chính trị Trung ương Cộng sản đã ra lịnh cho Tướng Hoàng Minh Thảo tấn công vào đầu tháng 4/1972 để phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận khác tại Quân đoàn I (Quảng Trị) và Quân đoàn III (Bình Long). Theo tin tức Phòng II tình báo thu thập được vào giờ chót thì Tướng CS Hoàng Minh Thảo sẽ xử dụng Sư đoàn 2 của CS đương đầu với các đơn vị của Sư đoàn 22BB để cầm chân sư đoàn này tại Tân Cảnh, còn Sư đoàn 320 của CS sẽ tiến quân vào Kontum.
Để đối phó với tình thế mới, Tướng Ngô Du đã xử dụng Lữ đoàn Dù vừa được Đại tướng Viên tăng cường, tiến chiếm dãy đồi phía Tây sông Polco và thiết lập 2 căn cứ hỏa lực mới là “Charlie” và “Delta” để ngăn chặn Sư đoàn 320 của CS. Kế hoạch phối trí này rất tốt đẹp lúc đầu.
Vào 4g sáng ngày 3/4/1972, Sư đoàn 320 tấn công biển người vào căn cứ “Delta”, nhưng đã gặp sức kháng cự vô cùng mãnh liệt của các chiến sĩ Dù (Mũ đỏ). Sau nhiều đợt tấn công và pháo kích tới tấp bằng hỏa tiển 122 ly và cối 120 ly, Cộng quân chỉ chiếm được hàng rào đầu tiên vào căn cứ. Tướng Ngô Du và tham mưu lên căn cứ Võ Định trên Quốc lộ 14 để chỉ huy mặt trận. Cố vấn Paul Vann được tin này rất phấn khởi, cũng bay lên quan sát 2 căn cứ “Delta” và “Charlie”. Paul Vann thấy rõ một số Cộng quân đông đảo đang bao vây quanh căn cứ “Delta” giữa hàng rào thứ nhất và thứ hai, ông liền gọi các phi tuần của Không lực Hoa Kỳ cất cánh từ Thái Lan qua oanh kích liên tục chung quanh căn cứ “Delta”, ông còn gọi thêm các phi cơ Stinger và Spectre, được trang bị đặc biệt đại bác Bofors và đại liên Volcan để yểm trợ căn cứ này.
Chiều ngày 3/4/1972, Cộng quân chưa chiếm dược đồn nhưng các chiến sĩ Dù đã cạn hết đạn dược, thuốc men và nước uống. Trực thăng Chinook của KQVNCH được lịnh Tướng Ngô Du tiếp tế khẩn cấp đạn dược và thuốc men vào căn cứ “Delta” để các chiến sĩ có thể bảo vệ căn cứ trong đêm nay. Nhưng trực thăng đã bị hỏa lực phòng không của CS bắn rới ngoài đồn. Thấy thế, Paul Vann đã liều lĩnh xử dụng trực thăng nhỏ, loại mới nhất của quân đội Hoa Kỳ, là OH58 Kiowa, chỉ có 2 chỗ ngồi để tiếp tế. Đích thân ông lái máy bay còn Trung úy Huỳnh Văn Cai, người được Tướng Ngô Du chỉ định làm sĩ quan tùy viên cho Paul Vann, đạp từng thùng đạn, thùng thuốc xuống giữa căn cứ, mặc dù súng phòng không địch đủ loại 14.5 ly, 12.7 ly bắn lên tới tấp. Bất chấp mọi nguy hiểm, Paul Vann đã tiếp tế cho đơn vi. Dù các chuyến đầy đủ dạn dược, mìn chiếu sáng, thuốc men và nước uống, để đơn vị này có thể cầm cự với Cộng quân đêm sắp tới. Chuẩn tướng Gerge Wear, Tư lịnh phó, và Đại tá Joseph Pizzi, Tham mưu trưởng của Paul Vann phải kêu lên :”Thật điên rồ !”. Tướng Ngô Du phải khâm phục hành động táo bạo của Paul Vann.
Kết quả, Sư đoàn 320 của CS bị thảm bị thảm bại nặng nề tại căn cứ “Delta”. Tướng Hoàng Minh Thảo phải bổ sung quân số cấp tốc cho sư đoàn này và sau đó 10 ngày (14/4/1972) lại cho mở cuộc tấn công vào căn cứ “Charlie”. Lần này Lữ đoàn Dù do Trung Tá Nguyễn Đình Bảo chỉ huy bị một hỏa tiễn 122 ly trúng vào hầm chỉ huy làm Trung tá Bảo tử trận ngay giây phút đầu tiên. Những sĩ qUan còn lại của Trung tá Bảo thấy CS quá đông nên đã rút khỏi căn cứ và bỏ xác Trung tá Bảo lại trong hầm.
Ngày 20/4/1972, tình hình tại Quảng Trị (Quân đoàn I) quá nặng, nên Đại tướng Viên phải rút Lữ đoàn Dù tại Kontum để tăng cường cho mặt trận Quảng Trị. Tình hình quân sự tại mặt trận Tân Cảnh bắt đầu đen tối. Tướng Ngô Du vô cùng lo lắng.
Ngày 28/4/1972, CS tấn công đồn Ben Het giáp biên giới Lào bằng 10 chiến xa T54, nhưng đã bị Paul Vann điều động 2 trực thăng võ trang Cobra trang bị hỏa tiễn chống chiến xa, được điều khiển bằng tia Laser bắn rất chính xác, tiêu diệt 5 chiến xa T54 tại chỗ, 5 chiếc còn lại phải chạy trốn qua biên giới Lào. Sau đó QLVNCH rút quân khỏi đồn này, vì vị trí quá xa và hẻo lánh.
ĐẠI TÁ LÊ ĐỨC ĐẠT VÀ CỐ VẤN QUÂN ĐOÀN II JOHN PAUL VANN
Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng Sản di chuyển. Phòng II thu thập tin tức ... báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Du và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Du tin những báo cáo của Phòng II , nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng Sản. Đối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin.
Tướng CS Hoàng Minh Thảo thấy Lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên ông có kế hoạch tấn công cấp tốc để dứt điểm Sư Đoàn 22 BB tại Tân Cảnh bằng Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, cùng chiến xa T-54 và hỏa tiễn AT-3 Sagger do Liên Sô chế tạo. Chiến xa T-54 và hoả tiễn Sagger là hai loại vũ khí tối tân được sử dụng lần đầu tiên tại chiến trường miền Nam vào mùa hè 1972. T-54 là loại chiến xa bọc sắt cứng, dày, tương đương với chiến xa M-48 của Hoa Kỳ. Hỏa tiễn AT-3 Sagger là loại hoả tiễn chống chiến xa được điều khiển bằng giây điện-tử, giống như hỏa tiễn TOW của Mỹ, nhưng tầm tác-xạ ngắn hơn.
Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng sản di chuyển. Phòng II báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Du và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Du tin những báo cáo của Phòng II , nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng sản. Đối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin.
Trong những ngày 20, 21 và 22 tháng 4/1972, các sư đoàn CS áp sát bao vây Tân Cảnh. Khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của họ, Phòng II trình Tướng Ngô Du phải diệt địch ngay bằng B-52 theo như kế hoạch trước đây mà ông và John Paul Vann đã tính toán. Nhưng John Paul Vann đã từ chối xử dụng B-52, vì trong thâm ý, ông không muốn yểm trợ cho Đại Tá Lê Đức Đạt. Tướng Ngô Du nổi giận la t “Ông John Paul Vann, ông là bạn hay là kẻ thù của tôi?” John Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông dùng trực thăng bay xuống mặt trận Bắc Bình Định.
Thời gian này, mặt trận mặt Bắc Bình Định cũng rất sôi động. Tướng Ngô Du chỉ dịnh Đại Tá Trần Hiếu Đức, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 40 thuộc Sư Đoàn 22 BB làm Tư Lệnh chiến trường, chịu trách nhiệm bảo vệ 3 quận Hoài Ân, Bồng Sơn và Tam Quan. Sư Đoàn 3 Sao Vàng Cộng sản được lệnh phối hợp với các mặt trận khác nên đã tung quân bao vây quận Hoài Ân. Tại đây, John Paul Vann cũng gây khó khăn cho Đại Tá Đức về yểm trợ hỏa lực trong khi bị áp lực nặng nề của Cộng quân. Đại Tá Đức ra lệnh rút bỏ quận Hoài Ân để cố thủ quận Bồng Sơn.
Ngày 21 tháng 4/1972, John Paul Vann bay lên Tân Cảnh thăm Đại Tá Philip Kaplan, cố vấn cho Đại Tá Lê Đức Đạt. Tại hầm chỉ huy, mặc dù biết John Paul Vann không ưa thích, Đại Tá Đạt vẫn trình bày đầy đủ chi tiết cho John Paul Vann rõ. John Paul Vann đã có hành động thiếu lịch sự, ông chỉ mạnh vào bản đồ và nói cộc lốc bằng giọng mũi: “Đại Tá Đạt, ông sẽ là vị tư lệnh sư đoàn Việt Nam đầu tiên làm mất sư đoàn và bại trận.” Đại Tá Đạt rất tức giận, ông đã vứt điếu thuốc đang hút xuống đất, cười gằn và bảo John Paul Vann: “Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.”
Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 22 chạm súng với Cộng quân rất sớm, không quá xa Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, đồng thời đạn pháo kích của Cộng sản tới tấp vào căn cứ Tân Cảnh. Chiến xa bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn của Đại Tá Đạt gồm 10 chiếc được điều động ra để chống lại địch, đã bị hỏa tiễn Sagger bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Thiếu Tá Như cùng Đại Úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, xuất thân từ trường Wespoint, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, xử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng đã bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai người chết tại chỗ. Các đơn vị Sư Đoàn 22 chạm súng suốt ngày với địch tại Tân Cảnh. Tướng Ngô Du sử dụng tối đa hỏa lực không quân để yểm trợ cho Đại Tá Đạt.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, do Địa Pương Quân và Nghĩa Quân người Thượng bảo vệ, đã quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T-54 đang tiến về hướng quận. Quân Đoàn liền điều động phi cơ lên thả trái sáng. Các binh sĩ VNCH trong các hầm chiến đấu cá nhân đã thấy tất cả 15 chiếc chiến xa T-54 xếp hàng dọc chạy tiến về Tân Cảnh. Phi cơ C-130 tác xạ để ngăn không cho chiến xa địch tiến, nhưng vô hiệu quả, vì loại phi cơ này không có loại đạn chống chiến xa [*].
[*]GHI CHÚ: AC-130 Spectre là loại vận tải cơ võ-trang, tức là máy bay vận tải, nhưng được cải biến để trở thành một phi cơ võ trang với nhiều loại súng gắn bên hông. Năm 1967, các vận tải cơ võ-trang AC-130 chỉ được trang bị đại liên 7.62-ly và 20-ly. Về sau đến giai đoạn 1971-72, thì các phi cơ này mới bắt đầu được gắn đại bác 40-ly và 105-ly. Theo tài liệu The Battle of Kontum (Trận Chiến Kontum) của Đại Tá Jack Heslin, khuya 23 tháng 4/1972, một phi cơ AC-130 phát hiện một đoàn chiến xa Bắc Việt trên một con lộ về phía bắc căn cứ Tân Cảnh. Chiếc AC-130 liền khai hỏa với khẩu đại bác 105-ly và báo cáo đã bắn trúng 3 chiếc, nhưng số còn lại vẫn tiếp tục di chuyển về hướng Tân Cảnh. Nhưng vẫn không rõ đêm 23 tháng 4/1972 chiếc AC-130 bay yểm trợ trên bầu trời Tân Cảnh là loại nào (được trang bị hay là không được trang bị loại súng 105-ly).
Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa CS bao vây căn cứ Tân Cảnh. Đại Tá Philip Kaplan yêu cầu John Paul Vann lên cứu ông vào lúc 4 giờ khi trời chưa sáng tại bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn. Đại tá Kaplan cho Đại Tá Đạt biết và yêu cầu cùng lên trực tăng cấp cứu của John Paul Vann nhưng Đại Tá Đạt từ chối. Đại Tá Đạt biết tình hình rất bi đát, địch sẽ tràn ngập căn cứ vào khoảng 7 giờ sáng, nhưng ông không yêu cầu Tướng Ngô Du lên cứu như Đại tá Kaplan đã làm. Ông ra lệnh cho tất cả các sĩ quan và binh sĩ còn lại tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Đại Tá Tôn Thất Hùng đã thoát được nhưng bị thương. Ông chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu và bảo vệ ông, đưa ông về đến thị xã Kontum sau 15 ngày đi loanh quanh trong rừng. Ba tháng sau, ông cùng gia đình lên Pleiku để đền ơn cho gia đình người Thượng này đang sống trong trại tị nạn.
Đại Tá Lê Đức Đạt đã ở lại trong căn cứ Tân Cảnh. Theo lời Đại tá Kaplan, có lẽ Đại Tá Đạt đã tự sát sau khi đồn Tân Cảnh bị Cộng quân tràn ngập. Đó là ngày 24 tháng 4/1972, lúc 10 giờ sáng.
Đại Tá Lê Đức Đạt
Đại tá Đạt làm Tư lịnh tại mặt trận Tân Cảnh được một tuần lễ thì Cộng quân bắt đầu chạm súng lẻ tẻ với QLVNCH tại nhiều nơi. Đại tướng Cao Văn Viên liền tăng cường cho Đại tá Đạt một Lữ đoàn Dù. Tướng Ngô Du đã thổ lộ trên trực thăng chỉ huy của ông là Paul Vann là một người Mỹ rất hăng say muốn giúp VN, nhưng không thông cảm cho hoàn cảnh và tình cảm của người VN.
Mặt trận bùng nổ :
Theo tin tức khai thác được của các tù binh CS thì mặt trận sẽ bùng nổ lớn vào trung tuần tháng 3/1972, nhưng Bộ chính trị Trung ương Cộng sản đã ra lịnh cho Tướng Hoàng Minh Thảo tấn công vào đầu tháng 4/1972 để phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận khác tại Quân đoàn I (Quảng Trị) và Quân đoàn III (Bình Long). Theo tin tức Phòng II tình báo thu thập được vào giờ chót thì Tướng CS Hoàng Minh Thảo sẽ xử dụng Sư đoàn 2 của CS đương đầu với các đơn vị của Sư đoàn 22BB để cầm chân sư đoàn này tại Tân Cảnh, còn Sư đoàn 320 của CS sẽ tiến quân vào Kontum.
Để đối phó với tình thế mới, Tướng Ngô Du đã xử dụng Lữ đoàn Dù vừa được Đại tướng Viên tăng cường, tiến chiếm dãy đồi phía Tây sông Polco và thiết lập 2 căn cứ hỏa lực mới là “Charlie” và “Delta” để ngăn chặn Sư đoàn 320 của CS. Kế hoạch phối trí này rất tốt đẹp lúc đầu.
Vào 4g sáng ngày 3/4/1972, Sư đoàn 320 tấn công biển người vào căn cứ “Delta”, nhưng đã gặp sức kháng cự vô cùng mãnh liệt của các chiến sĩ Dù (Mũ đỏ). Sau nhiều đợt tấn công và pháo kích tới tấp bằng hỏa tiển 122 ly và cối 120 ly, Cộng quân chỉ chiếm được hàng rào đầu tiên vào căn cứ. Tướng Ngô Du và tham mưu lên căn cứ Võ Định trên Quốc lộ 14 để chỉ huy mặt trận. Cố vấn Paul Vann được tin này rất phấn khởi, cũng bay lên quan sát 2 căn cứ “Delta” và “Charlie”. Paul Vann thấy rõ một số Cộng quân đông đảo đang bao vây quanh căn cứ “Delta” giữa hàng rào thứ nhất và thứ hai, ông liền gọi các phi tuần của Không lực Hoa Kỳ cất cánh từ Thái Lan qua oanh kích liên tục chung quanh căn cứ “Delta”, ông còn gọi thêm các phi cơ Stinger và Spectre, được trang bị đặc biệt đại bác Bofors và đại liên Volcan để yểm trợ căn cứ này.
Chiều ngày 3/4/1972, Cộng quân chưa chiếm dược đồn nhưng các chiến sĩ Dù đã cạn hết đạn dược, thuốc men và nước uống. Trực thăng Chinook của KQVNCH được lịnh Tướng Ngô Du tiếp tế khẩn cấp đạn dược và thuốc men vào căn cứ “Delta” để các chiến sĩ có thể bảo vệ căn cứ trong đêm nay. Nhưng trực thăng đã bị hỏa lực phòng không của CS bắn rới ngoài đồn. Thấy thế, Paul Vann đã liều lĩnh xử dụng trực thăng nhỏ, loại mới nhất của quân đội Hoa Kỳ, là OH58 Kiowa, chỉ có 2 chỗ ngồi để tiếp tế. Đích thân ông lái máy bay còn Trung úy Huỳnh Văn Cai, người được Tướng Ngô Du chỉ định làm sĩ quan tùy viên cho Paul Vann, đạp từng thùng đạn, thùng thuốc xuống giữa căn cứ, mặc dù súng phòng không địch đủ loại 14.5 ly, 12.7 ly bắn lên tới tấp. Bất chấp mọi nguy hiểm, Paul Vann đã tiếp tế cho đơn vi. Dù các chuyến đầy đủ dạn dược, mìn chiếu sáng, thuốc men và nước uống, để đơn vị này có thể cầm cự với Cộng quân đêm sắp tới. Chuẩn tướng Gerge Wear, Tư lịnh phó, và Đại tá Joseph Pizzi, Tham mưu trưởng của Paul Vann phải kêu lên :”Thật điên rồ !”. Tướng Ngô Du phải khâm phục hành động táo bạo của Paul Vann.
Kết quả, Sư đoàn 320 của CS bị thảm bị thảm bại nặng nề tại căn cứ “Delta”. Tướng Hoàng Minh Thảo phải bổ sung quân số cấp tốc cho sư đoàn này và sau đó 10 ngày (14/4/1972) lại cho mở cuộc tấn công vào căn cứ “Charlie”. Lần này Lữ đoàn Dù do Trung Tá Nguyễn Đình Bảo chỉ huy bị một hỏa tiễn 122 ly trúng vào hầm chỉ huy làm Trung tá Bảo tử trận ngay giây phút đầu tiên. Những sĩ qUan còn lại của Trung tá Bảo thấy CS quá đông nên đã rút khỏi căn cứ và bỏ xác Trung tá Bảo lại trong hầm.
Ngày 20/4/1972, tình hình tại Quảng Trị (Quân đoàn I) quá nặng, nên Đại tướng Viên phải rút Lữ đoàn Dù tại Kontum để tăng cường cho mặt trận Quảng Trị. Tình hình quân sự tại mặt trận Tân Cảnh bắt đầu đen tối. Tướng Ngô Du vô cùng lo lắng.
Ngày 28/4/1972, CS tấn công đồn Ben Het giáp biên giới Lào bằng 10 chiến xa T54, nhưng đã bị Paul Vann điều động 2 trực thăng võ trang Cobra trang bị hỏa tiễn chống chiến xa, được điều khiển bằng tia Laser bắn rất chính xác, tiêu diệt 5 chiến xa T54 tại chỗ, 5 chiếc còn lại phải chạy trốn qua biên giới Lào. Sau đó QLVNCH rút quân khỏi đồn này, vì vị trí quá xa và hẻo lánh.
ĐẠI TÁ LÊ ĐỨC ĐẠT VÀ CỐ VẤN QUÂN ĐOÀN II JOHN PAUL VANN
Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng Sản di chuyển. Phòng II thu thập tin tức ... báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Du và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Du tin những báo cáo của Phòng II , nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng Sản. Đối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin.
Tướng CS Hoàng Minh Thảo thấy Lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên ông có kế hoạch tấn công cấp tốc để dứt điểm Sư Đoàn 22 BB tại Tân Cảnh bằng Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, cùng chiến xa T-54 và hỏa tiễn AT-3 Sagger do Liên Sô chế tạo. Chiến xa T-54 và hoả tiễn Sagger là hai loại vũ khí tối tân được sử dụng lần đầu tiên tại chiến trường miền Nam vào mùa hè 1972. T-54 là loại chiến xa bọc sắt cứng, dày, tương đương với chiến xa M-48 của Hoa Kỳ. Hỏa tiễn AT-3 Sagger là loại hoả tiễn chống chiến xa được điều khiển bằng giây điện-tử, giống như hỏa tiễn TOW của Mỹ, nhưng tầm tác-xạ ngắn hơn.
Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng sản di chuyển. Phòng II báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Du và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Du tin những báo cáo của Phòng II , nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng sản. Đối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin.
Trong những ngày 20, 21 và 22 tháng 4/1972, các sư đoàn CS áp sát bao vây Tân Cảnh. Khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của họ, Phòng II trình Tướng Ngô Du phải diệt địch ngay bằng B-52 theo như kế hoạch trước đây mà ông và John Paul Vann đã tính toán. Nhưng John Paul Vann đã từ chối xử dụng B-52, vì trong thâm ý, ông không muốn yểm trợ cho Đại Tá Lê Đức Đạt. Tướng Ngô Du nổi giận la t “Ông John Paul Vann, ông là bạn hay là kẻ thù của tôi?” John Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông dùng trực thăng bay xuống mặt trận Bắc Bình Định.
Thời gian này, mặt trận mặt Bắc Bình Định cũng rất sôi động. Tướng Ngô Du chỉ dịnh Đại Tá Trần Hiếu Đức, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 40 thuộc Sư Đoàn 22 BB làm Tư Lệnh chiến trường, chịu trách nhiệm bảo vệ 3 quận Hoài Ân, Bồng Sơn và Tam Quan. Sư Đoàn 3 Sao Vàng Cộng sản được lệnh phối hợp với các mặt trận khác nên đã tung quân bao vây quận Hoài Ân. Tại đây, John Paul Vann cũng gây khó khăn cho Đại Tá Đức về yểm trợ hỏa lực trong khi bị áp lực nặng nề của Cộng quân. Đại Tá Đức ra lệnh rút bỏ quận Hoài Ân để cố thủ quận Bồng Sơn.
Ngày 21 tháng 4/1972, John Paul Vann bay lên Tân Cảnh thăm Đại Tá Philip Kaplan, cố vấn cho Đại Tá Lê Đức Đạt. Tại hầm chỉ huy, mặc dù biết John Paul Vann không ưa thích, Đại Tá Đạt vẫn trình bày đầy đủ chi tiết cho John Paul Vann rõ. John Paul Vann đã có hành động thiếu lịch sự, ông chỉ mạnh vào bản đồ và nói cộc lốc bằng giọng mũi: “Đại Tá Đạt, ông sẽ là vị tư lệnh sư đoàn Việt Nam đầu tiên làm mất sư đoàn và bại trận.” Đại Tá Đạt rất tức giận, ông đã vứt điếu thuốc đang hút xuống đất, cười gằn và bảo John Paul Vann: “Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.”
Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 22 chạm súng với Cộng quân rất sớm, không quá xa Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, đồng thời đạn pháo kích của Cộng sản tới tấp vào căn cứ Tân Cảnh. Chiến xa bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn của Đại Tá Đạt gồm 10 chiếc được điều động ra để chống lại địch, đã bị hỏa tiễn Sagger bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Thiếu Tá Như cùng Đại Úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, xuất thân từ trường Wespoint, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, xử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng đã bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai người chết tại chỗ. Các đơn vị Sư Đoàn 22 chạm súng suốt ngày với địch tại Tân Cảnh. Tướng Ngô Du sử dụng tối đa hỏa lực không quân để yểm trợ cho Đại Tá Đạt.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, do Địa Pương Quân và Nghĩa Quân người Thượng bảo vệ, đã quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T-54 đang tiến về hướng quận. Quân Đoàn liền điều động phi cơ lên thả trái sáng. Các binh sĩ VNCH trong các hầm chiến đấu cá nhân đã thấy tất cả 15 chiếc chiến xa T-54 xếp hàng dọc chạy tiến về Tân Cảnh. Phi cơ C-130 tác xạ để ngăn không cho chiến xa địch tiến, nhưng vô hiệu quả, vì loại phi cơ này không có loại đạn chống chiến xa [*].
[*]GHI CHÚ: AC-130 Spectre là loại vận tải cơ võ-trang, tức là máy bay vận tải, nhưng được cải biến để trở thành một phi cơ võ trang với nhiều loại súng gắn bên hông. Năm 1967, các vận tải cơ võ-trang AC-130 chỉ được trang bị đại liên 7.62-ly và 20-ly. Về sau đến giai đoạn 1971-72, thì các phi cơ này mới bắt đầu được gắn đại bác 40-ly và 105-ly. Theo tài liệu The Battle of Kontum (Trận Chiến Kontum) của Đại Tá Jack Heslin, khuya 23 tháng 4/1972, một phi cơ AC-130 phát hiện một đoàn chiến xa Bắc Việt trên một con lộ về phía bắc căn cứ Tân Cảnh. Chiếc AC-130 liền khai hỏa với khẩu đại bác 105-ly và báo cáo đã bắn trúng 3 chiếc, nhưng số còn lại vẫn tiếp tục di chuyển về hướng Tân Cảnh. Nhưng vẫn không rõ đêm 23 tháng 4/1972 chiếc AC-130 bay yểm trợ trên bầu trời Tân Cảnh là loại nào (được trang bị hay là không được trang bị loại súng 105-ly).
Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa CS bao vây căn cứ Tân Cảnh. Đại Tá Philip Kaplan yêu cầu John Paul Vann lên cứu ông vào lúc 4 giờ khi trời chưa sáng tại bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn. Đại tá Kaplan cho Đại Tá Đạt biết và yêu cầu cùng lên trực tăng cấp cứu của John Paul Vann nhưng Đại Tá Đạt từ chối. Đại Tá Đạt biết tình hình rất bi đát, địch sẽ tràn ngập căn cứ vào khoảng 7 giờ sáng, nhưng ông không yêu cầu Tướng Ngô Du lên cứu như Đại tá Kaplan đã làm. Ông ra lệnh cho tất cả các sĩ quan và binh sĩ còn lại tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Đại Tá Tôn Thất Hùng đã thoát được nhưng bị thương. Ông chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu và bảo vệ ông, đưa ông về đến thị xã Kontum sau 15 ngày đi loanh quanh trong rừng. Ba tháng sau, ông cùng gia đình lên Pleiku để đền ơn cho gia đình người Thượng này đang sống trong trại tị nạn.
Đại Tá Lê Đức Đạt đã ở lại trong căn cứ Tân Cảnh. Theo lời Đại tá Kaplan, có lẽ Đại Tá Đạt đã tự sát sau khi đồn Tân Cảnh bị Cộng quân tràn ngập. Đó là ngày 24 tháng 4/1972, lúc 10 giờ sáng.
Gửi ý kiến của bạn