[ LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VIỆT NAM 1945 - 1975 ] HIỆP ƯỚC SƠ BỘ VỊNH HẠ LONG ( 7-12-1947 ) VÀ SỰ THÀNH LẬP CHÍNH THỂ QUỐC GIA VIỆT NAM ( 8-3-1949 ) .

10 Tháng Mười Một 20216:42 CH(Xem: 57)
Ngày 8/3/1949 là ngày ký hiệp định Elysee giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại. Thông qua hiệp định này, TT Pháp kiêm chủ tịch Liên hiệp Pháp đã công nhận Quốc Gia Việt Nam là một nhà nước độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Ngày này được coi là ngày thành lập Quốc Gia Việt Nam (QGVN).
QGVN là chính quyền quản lý cả nước VN (trừ các vùng chiến khu do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) kiểm soát) từ năm 1949-1954, tại Bắc vĩ tuyến 17 và sau đó đến tháng 10/1955 tại Nam vĩ tuyến 17, sau Hiệp Định Geneva. QGVN chấm dứt tồn tại sau cuộc trưng cầu dân ý phế truất quốc trưởng Bảo Đại, thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm quốc trưởng và tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Đa số người Việt hiện nay không biết tới QGVN do chính quyền CS không công nhận. Vì thế, chính quyền này coi như bị xóa khỏi lịch sử VN hiện nay.
Tuy nhiên, Quốc Gia Việt Nam (QGVN) vẫn là một phần của lịch sử VN, cho dù có được phe CS công nhận hay không. Nhân kỷ niệm ngày thành lập chính quyền này, vài dòng sơ lược sau đây để mọi người thấy được bức tranh toàn cảnh về lịch sử VN giai đoạn 1945-1954, vốn rất nhạy cảm.
Bối cảnh
Ngày 2/9/1945 nước VNDCCH ra đời, để có tính chính danh, Việt Minh (VM ) tổ chức bầu cử quốc hội (QH) khóa 1 vào tháng 1/1946. Với 90% dân số mù chữ, kết quả bầu cử là VM chiếm đa số ghế trong QH, đảng đối lập là Việt Quốc, Việt Cách tẩy chay bầu cử, vì cho là VM độc diễn. Ông Hồ Chí Minh (HCM) được bầu với hơn 98% số phiếu! Công dân Vĩnh Thụy cũng trúng cử đại biểu quốc hội cho dù ông không tham gia bầu cử cũng không trực tiếp ứng cử!
Tuy nhiên, VNDCCH không được bất nước nào trên thế giới công nhận, kể cả Liên Sô.
Ngay cuối tháng 9/1945, người Pháp theo chân người Anh vào Nam vĩ tuyến 16 và Trung Hoa dân quốc (chính quyền Tưởng) vào Bắc vĩ tuyến 16 để giải giáp quân đội Nhật. Người Pháp không công nhận VNDCCH ở miền Nam, phía quân Tàu Tưởng chấp nhận sự tồn tại VNDCCH ở miền Bắc nhưng gây sức ép để chính phủ và QH của VNDCCH phải cải cách để trao thêm quyền lực cho những người không phải VM.
Việt Quốc và Việt Cách được đặc cách 70/300 ghế đại biểu QH và được cử người nắm 1 số chức vụ quan trọng trong chính phủ.
Ngày 6/3/1946, Chủ tịch HCM ký với Sainteny, đại diện của Pháp tại miền Bắc hiệp định Sơ bộ. Hiệp định này cho phép quân đội Pháp thay thế quân Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật ở miền Bắc. Trước đó, Pháp và Tưởng đã ký hiệp định Trùng Khánh để Tưởng chấp nhận cho Pháp được thế chân tại Bắc Việt. Đổi lại, Pháp trả lại Tưởng nhượng địa của Pháp tại TQ và đường sắt Côn Minh.
Quân Pháp ra Bắc giải giáp quân Nhật nhưng không thể tiếp tục thương thảo được với VNDCCH về vai trò của nước VN.
VNDCCH đòi VN phải được độc lập và thống nhất 3 kỳ trong khi HĐ Sơ bộ trước đó đã thống nhất là VN chỉ độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp (không phải nước Pháp) và Nam Kỳ có nhập vào 2 kỳ còn lại hay không còn phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý.
Mâu thuẫn kể trên khiến cho chiến tranh Việt – Pháp nổ ra vào ngày 19-12-1946. Chính quyền VNDCCH rút lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến.
Trước đó, vào 1/6/1946, Cộng hòa Nam Kỳ Tự Trị được thành lập, Nam Kỳ ly khai khỏi VNDCCH bằng một cuộc bầu cử của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (kiểu như Hội đồng nhân dân hiện nay).
Chính quyền này chỉ được người Pháp công nhận. Trên thực tế từ cuối năm 1945, chính quyền VNDCCH đã bị vô hiệu tại Nam Kỳ.
Như vậy, sau khi VNDCCH rút lên chiến khu thì không có một chính quyền nào chính thức quản lý Bắc Việt.
Người Pháp cần có một chính quyền của người Việt để quản lý VN và không muốn biến VN thành thuộc địa như trước 45. Người Pháp muốn biến cuộc chiến Pháp – Việt thành cuộc chiến chống Cộng giữa 2 phe người Việt chứ không phải là cuộc chiến giành thuộc địa của mẫu quốc với dân bản xứ.
Sau khi thoái vị ngày 25/8/1945, vua Bảo Đại thành cố vấn Vĩnh Thụy cho chính quyền mới. Nhưng trong chuyến công cán sang Trung Hoa để vận động Tưởng Giới Thạch ủng hộ VNDCCH, Vĩnh Thụy bị bỏ lại bên Tàu (VM thì cho là ông trốn lại).
Vĩnh Thụy được một số người cưu mang và chuyển tới ở Hongkong.
Thành lập chính phủ
Giải pháp Bảo Đại được cả người Pháp lẫn phe Quốc Gia (không CS) người Việt ở Nam Kỳ thấy là tối ưu nhất để thành lập một chính quyền của người Việt.
Hai bên đều cử đại diện sang Hongkong để thuyết phục Bảo Đại quay lại VN chấp chính.
Cựu hoàng không dễ dàng chấp nhận mà ra điều kiện với Pháp về nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của VN.
Cuối cùng, người Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận từ bỏ thuộc địa Nam Kỳ vô điều kiện một cách chính thức (thông qua quốc hội Pháp). Hiệp định Elysee cụ thể hóa điều đó thành văn bản.
Bảo Đại đã làm được điều mà Việt Minh mong muốn - mà không được người Pháp chấp nhận, đó là VN được toàn vẹn lãnh thổ. Khi ký kết Hiệp Định, Bảo Đại ký với TT Pháp kiêm chủ tịch Liên hiệp Pháp, thể hiện vai trò của Bảo Đại như một nguyên thủ quốc gia.
Trong khi trước đó, CT HCM chỉ được ký HĐ Sơ bộ với Sainteny là một ủy viên cộng hòa Pháp (tương đương Thống sứ Bắc kỳ, dưới quyền cao ủy – toàn quyền Đông Dương). Sau đó, Chủ tịch HCM ký Tạm ước với Moutet (Bộ trưởng Pháp).
Tức là người Pháp không coi HCM như một nguyên thủ quốc gia ngang hàng.
Quốc Gia Việt Nam có thủ đô đặt tại Sài Gòn, quốc kỳ là cờ vàng 3 sọc đỏ, quốc ca là bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước được cải lời trở thành "Tiếng Gọi Công Dân" . Đây chính là quốc kỳ và quốc ca Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) sau này.
Quốc gia Việt Nam lúc mới thành lập , hết sức non yếu do các quyền quan trọng về quân sự và ngoại giao đều bị người Pháp chi phối và quyền hành cao nhất trên thực tế là Cao ủy Pháp.
Kỹ sư Trần Văn Hữu nhường cho Trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam.
Nguyễn Văn Xuân là Thủ Tướng thứ 3 của Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị sau hai vị tiền nhiệm là Thủ Tướng Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch . Sau khi thừa nhận Hiệp Ước vịnh Hạ Long 1948 , thì Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị đã chuyển tên trở thành Cộng Hòa Nam Phần Việt Nam . Ngày 27 tháng 5 năm 1948, ông đệ trình danh sách nội các Chính phủ. Đến ngày 5 tháng 6 năm 1948 thì tuyên cáo Hạ Long được chính thức ký kết, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam. QGVN là một chính thể lai tạp giữa quân chủ chuyên chế và quân chủ lập hiến. Bảo Đại là nguyên thủ, gọi là quốc trưởng, nhưng quyền hành pháp được trao cho thủ tướng (khác quân chủ chuyên chế) nhưng chưa có hiến pháp và quốc hội (khác quân chủ lập hiến).
QGVN khi thành lập vẫn phụ thuộc về kinh tế, ngoại giao và quân sự vào Liên hiệp Pháp. Sau đó người Pháp trao trả dần sự tự chủ cho QGVN cùng với sự lớn mạnh của chính quyền này.
Đến tháng 6/1954, trước khi Hiệp Định Geneva được ký kết thì Pháp đã trao trả hoàn toàn nền độc lập cho QGVN.
Tuy nhiên lúc đó, Điện Biên Phủ đã thất thủ và VNDCCH đã kiểm soát hầu hết vùng nông thôn và miền núi.
Đến năm 1950, có 35 nước công nhận QGVN và thiết lập ngoại giao. Trong khi đó, phe XHCN thì công nhận VNDCCH cũng chỉ từ tháng 1/1950, sau khi thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Năm 1951, QGVN đại diện cho VN tham dự hội nghị San Francisco, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Quốc Gia Việt Nam (QGVN), không có nước nào tham dự hội nghị phản đối. Đài Loan và Trung Cộng (lúc đó đã nắm Hoa lục) đều không được tham dự hội nghị.

Lãnh thổ QGVN trên danh nghĩa: Diện tích 331.698 km²; (128.069 mi²)
Về mặt chiến thuật, Việt Nam được chia thành bốn quân khu:
Quân khu 1: Nam phần
Quân khu 2: Trung phần
Quân khu 3: Bắc phần
Quân khu 4: Cao nguyên Trung Phần (Tây Nguyên).
Khi đối đầu với lực lượng quân đội Việt Minh , Quân đội Quốc Gia Việt Nam thường bị tràn ngập . Một số nơi Quân đội Quốc Gia Việt Nam đạt được kết quả tốt nhưng nhìn chung Quân đội Quốc Gia Việt Nam không đủ sức ngăn chặn sự thâm nhập của quân đội Việt Minh vào Đồng bằng Bắc Việt .
Quân đội Quốc Gia Việt Nam (tiếng Pháp: Armée Nationale Vietnamienne, ANV) là lực lượng vũ trang của Quốc Gia Việt Nam, được sự bảo trợ tài chính của Liên hiệp Pháp, tồn tại từ 1950 đến 1955.
Khẩu hiệu Danh dự - Tổ quốc
Tham chiến:Trận Điện Biên Phủ, Trận Sài Gòn
Các tư lệnh- Chỉ huy nổi tiếng: Bảo Đại, Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Tỵ, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn, Dương Văn Đức.
Quân số:
Ban đầu, người Pháp từ chối hỗ trợ thành lập Quân đội Quốc Gia Việt Nam.
Sau khi đã chấp nhận hỗ trợ, họ không chịu trang bị pháo binh, thiết giáp và không quân cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam. Vì vậy Quân đội Quốc Gia Việt Nam chỉ toàn bộ binh hạng nhẹ.
Trong thời gian tồn tại, quân đội này phát triển nhanh nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Vào tháng 5 năm 1951, Quân đội Quốc Gia Việt Nam có quân số chưa đầy 40.000. Tháng 6, chính phủ Trần Văn Hữu phát động "tổng động viên" để lấy thêm 60.000 người cho đợt huấn luyện 2 tháng. Đến Tháng Chạp năm 1951 thì quân số đạt 128.000 người.
Tính đến năm 1952, Quân đội Quốc Gia có 135.000 người được tổ chức thành 36 tiểu đoàn bộ binh, 3 đội thiết giáp trinh sát, 2 đại đội pháo binh. Tính đến mùa đông năm 1953 Quân đội Quốc Gia có 200.000 quân chính quy (trong đó có 50.000 quân dự bị) và 78.000 địa phương quân. Vào Tháng Chạp năm 1954 thì quân số trong Quân đội Quốc Gia Việt Nam tổng cộng là 230.000 người, trong đó có 165.000 quân chính quy và 65.000 quân địa phương.
* Trước khi Quân đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập, một số chỉ huy cao cấp của lực lượng phụ lực quân cũng mang hàm cấp tướng, chỉ có giá trị danh nghĩa nội bộ.
Mãi đầu năm 1952, Đại tá Nguyễn Văn Hinh, Chánh võ phòng Quốc Trưởng Bảo Đại được phong quân hàm Thiếu Tướng Quân đội Quốc Gia Việt Nam và được bổ nhiệm vào Tổng Tham mưu trưởng của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập.
Ông chính là tướng lĩnh chính thức đầu tiên của Quân đội Quốc Gia Việt Nam.
Chấm dứt
Sau khi Hiệp định Geneva ký kết giữa Pháp và VNDCCH (QGVN và Mỹ không ký), chính quyền QGVN rút khỏi Bắc vĩ tuyến 17 cùng quân đội Pháp và chỉ quản lý hành chính miền Nam. Tháng 7/1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại (lúc đó ở Pháp) ủy quyền toàn bộ về hành pháp.
Thủ tướng Diệm nhận chức trong bối cảnh có các sứ quân có quân đội riêng cát cứ ở VN. Các giáo phái, phe nhóm này đều thân Pháp và không phục TTg Diệm (thân Mỹ) khiến ông phải dùng bạo lực để dẹp loạn hòng thống nhất quyền lực về chính quyền trung ương.
Mâu thuẫn cao trào khi Bảo Đại triệu hồi Thủ Tướng Diệm sang Pháp , có ý cách chức.
Trong hoàn cảnh đó, nhóm thân cận ông Diệm đề nghị tổ chức trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại.
Sau cuộc trưng cầu dân ý (23/10/1955) bị cho là gian lận, Bảo Đại bị phế truất,Thủ Tướng Diệm lên thay và tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa, là chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Quốc Gia Việt Nam (QGVN) chính thức chấm dứt hoạt động./.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn