ĐẾ QUỐC MÔNG CỔ CHINH PHẠT NGARUSSIA XUYÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU VÀ NHỮNG CƠN SÓNG NGẦM HẮC HẢI CRIMEA - HÃN QUỐC KRYM TARTARIE & TRẬN SEVASTOPOL (1855) NGARUSSIA THẤT BẠI .

15 Tháng Mười Một 20256:33 CH(Xem: 232)
TẢN MẠN LỊCH SỬ CHIẾN TRANH CHINH PHẠT THỜI ĐẾ CHẾ THÀNH CÁT TƯ HÃN VÀ HAI MẶT TRẬN XUYÊN LỤC ĐỊA ĐÔNG - TÂY (Ả-ÂU) .

1+ Cuộc xâm lăng Đại Việt của quân Mông Cổ lần thứ 1.
Vào năm 1206, Thành Cát Tư Hãn đã thành công trong việc thống nhất các bộ lạc Mông Cổ, từ đó Đế quốc Mông Cổ liên tục thực hiện nhiều cuộc chiến nhằm mở rộng đế quốc của mình.
50 năm sau, đến đời Đại Hãn thứ 4, tức Mông Kha (Mönkh khaan), ông đã tiến hành các chiến dịch tấn công nước Nam Tống (Trung quốc). Mông Kha muốn đánh vào sườn nhà Tống thông qua việc cử em trai là Hốt Tất Liệt đánh Đại Lý. Đánh Đại Lý xong vào năm 1253, Hốt Tất Liệt trở về, ra lệnh cho Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) ở lại đánh các nước chưa hàng phục.
Đến năm 1257, việc chiếm Đại Việt nằm trong chiến lược tổng thể của quân đội Mông Cổ nhằm tiêu diệt Nam Tống. Bốn cánh quân Mông Cổ sẽ tấn công Nam Tống từ những địa điểm khác nhau từ phía Nam và phía Tây. Nắm quyền chỉ huy 3 cánh quân kia là Mông Kha, Hốt Tất Liệt và Tháp Sát Nhi. Cánh quân còn lại – cánh quân thứ tư, sau khi chiếm Đại Việt sẽ đánh thốc vào Nam Tống từ mạn cực Nam. Tổng chỉ huy của cánh quân thứ tư là Ngột Lương Hợp Thai. Nhà Trần (Đại Việt) được thành lập vào năm 1225, đến thời điểm nhà Nguyên xâm phạm, đã có nền hòa bình 180 năm kể từ khi nhà Tống xâm lược vào năm 1076.
- Mông Kha là anh của Hốt Tất Liệt - Cả hai là con của người con út của Thành Cát Tư Hãn là Đà Lôi . Mông Kha đã ra lịnh cho Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân Mông cổ xâm lăng Đại Việt lần thứ Nhứt . Mông Kha là một Đại Hãn của Đế quốc Mông cổ nhưng bị tử trận khi giao chiến với quân Nam Tống .

2+ Hãn Bạt Đô (Batu Khan) chinh phạt công quốc RussNga và thành lập Hãn Quốc Kim Trướng .
Hãn Bạt Đô (Batu Khan) Mông Cổ: Бат Хаан, tiếng Nga: Батый, tiếng Hoa: 拔都) (khoảng 1205–1255) là một Hãn Mông Cổ và đồng thời là người sáng lập ra Hãn quốc Kim Trướng. Bạt Đô là con trai của Hãn Truật Xích và là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn. Thanh Trướng hãn quốc của ông sau này hợp nhất với Bạch Trướng hãn quốc để trở thành Kim Trướng hãn quốc (hay hãn quốc Kipchak), cai trị cả RussNga và Kavkaz trong hơn 250 năm sau đó, đồng thời còn tấn công và tiêu diệt liên quân của hai vương quốc Ba Lan và Hungary. "Bạt Đô", "Batu" hay "Bat" về nghĩa đen có nghĩa là "mạnh mẽ" hay "Dũng sĩ" trong tiếng Mông Cổ. - Hãn Bạt Đô (Batu Khan) là con của Truật Xích là đứa con đầu tiên của Thành Cát Tư Hãn . Truật Xích bị hoài nghi về nguồn gốc , mặc dù Thành Cát Tư Hãn nhận Truật Xích là con của ông . Hãn Bạt Đô có công thiết lập Hãn Quốc Kim Trướng có lãnh thổ bao trùm từ Mông cổ đến RussNga và Đông Nam Âu .
Hãn Bạt Đô kiểm soát bán đảo Krym và hậu duệ của Bạt Đô cai quản cuối cùng Hãn Quốc Krym - Tartary .
Hãn quốc Krym (1443–1783)
Kiev Russ' mất quyền kiểm soát vùng nội địa Krym vào đầu thế kỷ 13 do Mông Cổ xâm lược. Vào mùa hè năm 1238, Batu Khan tàn phá bán đảo Krym và bình định Mordovia, tiến đến Kiev vào năm 1240. Vùng nội địa Krym nằm dưới quyền kiểm soát của Hãn quốc Kim Trướng của người Turk-Mông Cổ từ năm 1239 đến năm 1441. Tên gọi Krym có nguồn gốc từ tên của thủ phủ tỉnh của Hãn quốc Kim Trướng, thành phố này hiện gọi là Staryi Krym.
Hãn quốc Krym vào năm 1600
Trong khi Hãn quốc Kim Trướng có tranh chấp gia tộc, Hãn Bạt Đô đã giữ hòa khí với Hãn Mông Kha với mục đích ổn định cho Đế chế Thành Cát Tư Hãn là ông nội chung của hai Hãn là "con chú và con bác" .
Người Tatar Krym thành lập một Hãn quốc Krym độc lập dưới quyền Hacı I Giray (một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn) vào năm 1443. Hacı I Giray và những người kế vị của ông ban đầu cai trị tại Qırq Yer, và sau đó chuyển đến Bakhchisaray.
Nguồn gốc của Hacı I Giray .
Hacı I Giray, tên thật là Devlet, là người gốc Crimean Tatar. Ông có nguồn gốc từ gia đình có liên quan đến Togay Timur, con trai của Togay Timur, người đã nhận Crimea từ Mengu-Timur. Ông là con của Tash-Timur bin Cansı và Gyyas-ed-Din. Tash-Timur đã mạ bạc tiền trong Crimea từ năm 1394-1395, có thể cho thấy một phần độc lập. Hãn Hacı I Giray đã sống và làm việc tại Crimea trong suốt cuộc đời của mình, nơi ông đã xây dựng và phát triển một quốc gia độc lập.
Hãn quốc Krym hay tự gọi là Ngôi vương Krym và Desht-i Kipchak, và trong thuật chép sử và địa lý châu Âu gọi là Tiểu Tartary, là một nhà nước Tatar Krym tồn tại từ năm 1441 đến năm 1783, là hãn quốc Turk tồn tại lâu dài nhất kế thừa đế chế của Hãn quốc Kim Trướng.
Người cai trị được công nhận chính thức đầu tiên tại Krym được cho là Aran-Timur, cháu trai của Hãn Bạt Đô . Nhà nước do Hacı I Giray thành lập vào năm 1441, được cho là thể chế kế thừa trực tiếp của Hãn quốc Kim Trướng và của Desht-i-Kipchak.
Nhờ vị trí địa lý đắc địa, Krym (Crimea) trở thành điểm nút giao thương giữa Châu Âu và Châu Á. Từ thế kỷ 15, Hãn quốc Krym nổi lên như một thực thể độc lập, có luật pháp riêng và được cai trị bởi các khan dòng dõi Giray, con cháu trực hệ của Thành Cát Tư Hãn (Chinggis Khan).
Đây không đơn thuần là một chư hầu của Đế quốc Ottoman, mà thật sự có khả năng tự quyết trong nhiều vấn đề ngoại giao và quân sự, thậm chí có lúc dám đối đầu với chính Ottoman. Nhờ vị trí địa lý và nguồn lực dồi dào, Hãn quốc Krym Tartarie đã định hình cục diện khu vực suốt 300 năm cho đến khi bị thôn tính vào cuối thế kỷ 18.
ĐẾ QUỐC MÔNG CỔ SUY TÀN - NHỮNG CƠN SÓNG NGẦM HẮC HẢI CRIMEA BÙNG PHÁT - HÃN QUỐC KRYM TARTARIE VS NGARUSSIA & BATTLE IN SEVASTOPOL .

Hiệp ước Küçük-Kaynarca năm 1774 chỉ là “nút chặn” cuối cùng trước khi Nga áp dụng kế sách “phá hủy rồi nuốt chửng”: vừa tạo bất ổn trong nội bộ Krym, vừa dùng một khan “bù nhìn” do Nga dựng lên, để đi đến mục tiêu xóa sổ hoàn toàn Hãn quốc này.
Năm 1783, vi phạm Hiệp định Küçük Kaynarca với Ottoman, Đế quốc Nga sáp nhập Hãn quốc Krym. Trong số các cường quốc châu Âu, có Pháp bày tỏ kháng nghị công khai chống lại hành động này, do liên minh Pháp-Ottoman lâu năm.
Tranh giành quyền lực Krym-Crimea .
Crimea là bán đảo nằm nhô ra Biển Đen. Vẻ đẹp tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi biến Crimea trở thành điểm nóng cuộc chiến trong nhiều thế kỷ qua.
Năm 1853, Nga Hoàng Nicholas I thấy đế quốc Ottoman suy yếu liền tranh thủ cơ hội chiếm Moldavia và Walachia (Moldova và Romania ngày nay) trên sông Danube mà người Thổ kiểm soát.
Điều này đã đụng chạm đến quyền lợi của Áo – quốc gia muốn bảo đảm thông thương trên sông Danube – và khiến Anh, Pháp phản ứng. Lý do là bởi Sultan của Ottoman là Abdul Mejid I theo Pháp, công nhận Pháp và Giáo hội Công giáo La Mã có quyền lực cao nhất.
Các nước phương Tây lo ngại rằng sự thống trị của Nga trên khu vực biển Đen sẽ đe dọa các tuyến đường thương mại của họ đến Ấn Độ thông qua Ai Cập và Địa Trung Hải.
Sang năm 1854, 1 triệu liên quân Anh, Pháp, Áo, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ đã phối hợp đánh Nga – vốn có Bulgaria và Serbia cùng theo Chính Thống giáo trợ giúp, với số quân cả thảy khoảng 700 nghìn.
Các cuộc chiến diễn ra ở nhiều vùng tại Nam Âu, Trung Cận Đông và cả trên biển Baltic nhưng chủ yếu là ở bán đảo Crimea với trận Sevastopol nổi tiếng.
Chiến tranh Crimea gây chú ý bởi liên quân đã gạt bỏ khác biệt tôn giáo. Anh theo Tin Lành, Pháp thời Napoleon III theo Công giáo La Mã và Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi, để chống lại sự bành trướng của nước Nga theo Chính Thống giáo.
3+ Cuộc vây hãm thủ phủ Sevastopol-Crimea .
Liên quân với đội hình vượt trội từng bước đẩy quân Nga từ thế chủ động sang thế phải co cụm phòng thủ.
Ngày 17/10/1854, quân Anh-Pháp đổ bộ lên bán đảo Crimea, nhằm mục tiêu bao vây thủ phủ Sevastopol là căn cứ chính của hạm đội Đế quốc Nga tại Biển Đen.
Trên đường tới Sevastopol liên quân gặp một đạo quân Nga đang đóng trên các điểm cao tại Alma và mau chóng đánh tan đạo quân này. Chiến thắng ở Alma cho thấy Liên quân có ưu thế vượt trội về kỹ thuật.
Trong nỗ lực giải vây cho Sevastopol, quân Nga mở cuộc tiến công lớn vào Liên quân tại Inkerman nhưng thất bại. Quân Nga chết và bị thương lên tới 12.000, gấp 4 lần phe liên quân.
Trên biển, quân Nga phải huy động nhiều chiến thuyền, dùng pháo hải quân và cho thủy thủ chiến đấu như lính thủy đánh bộ. Hải quân Nga thiệt hại 4 chiến hạm lớn, 12 chiến hạm cỡ trung và nhiều chiến thuyền nhỏ.
Ngược lại, hơn 1.000 đại bác của hải quân đồng minh Anh-Pháp bắn hơn 20 nghìn viên pháo vào đồn phòng thủ Sveaborg của Nga gần Helsinki. Nhưng chỉ huy trưởng Nga Viktor Poplonsky đem tàu chiến Rossiya chặn giữ cửa biển, không cho quân Anh-Pháp vào.
Khi người Nga nhận ra mình không thể chiến thắng nếu đối đầu trực diện, họ chuyển hầu hết lính về thành phố và chuẩn bị vị trí phòng thủ. Trong thời gian đầu, người Nga phải chống chọi sự bắn phá vào ban ngày và lập tức xây dựng lại thành lũy trong đêm. Thời tiết mùa đông rất khắc nghiệt đã làm cho lính cả 2 phe đều gục ngã trước bệnh tật...
Sau 11 tháng cố thủ ở Sevastopol, binh lính Nga cuối cùng buộc phải rút ra khỏi đây và để liên quân Anh, Pháp, Áo, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ tiến vào thành phố ngày 9/9/1855. Thất bại này buộc đế quốc Nga phải ký hòa ước Paris năm 1856.

Thất bại trong cuộc chiến Crimea thế kỷ 19 khiến nước Nga thời Sa hoàng rơi vào suy thoái nghiêm trọng.
Theo đó, Nga và đế quốc Ottoman xác định lại ranh giới chủ quyền tranh chấp. Người Nga không được phép thành lập Hạm đội ở Biển Đen và gánh khoản nợ chiến phí khổng lồ.
Cuộc chiến trên bán đảo Crimea chỉ diễn ra trong vòng 3 năm nhưng đã gây ra con số thương vong lớn. Trong số hơn 800.000 lính Nga tham gia chiến dịch, 522.000 người chết và bị thương, trong đó tổng số người chết lên tới hơn 400.000.
Phía liên quân có tới 252.000 người thiệt mạng, trong đó 70.000 là chết trong chiến trận. Đế quốc Ottoman tổn thất lớn nhất, sau đó đến Pháp và Anh.
Giới sử gia ngày nay coi Crimea là nơi diễn ra cuộc chiến tranh hiện đại đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Với những kỹ thuật tác chiến vượt trội, chiến tranh vùng Crimea thay đổi hoàn toàn cách thức chiến đấu của quân đội các nước. Cuộc chiến cũng đặt nền tảng để các cường quốc bị cuốn vào Thế chiến 1.

Không khó để có thể hiểu được tại sao nước Nga dù là dưới hay không dưới triều đại trị vì của Putin lại cố chấp với Crimea như vậy. Bởi được biết, thì trong quá khứ, thất bại trong cuộc chiến Crimea được coi là ‘nỗi nhục’ khó quên của nước Nga, làm thay đổi hoàn toàn vị thế của đế quốc Nga trên trường quốc tế.
Cuộc chiến tranh Crimea (1853-1856) mở đầu với việc đế quốc Nga tuyên chiến với một đối thủ yếu hơn, nhưng đến cuối cùng, đế quốc Nga lại thất bại bởi một liên minh các cường quốc.
Theo Hiệp ước Paris (1856) sau cuộc chiến, Nga không mất nhiều phần lãnh thổ "nội địa" nhưng mất quyền thành lập Hạm đội Biển Đen. Nga từ bỏ quyền bảo vệ người Công giáo khỏi đế quốc Ottoman. Tầm ảnh hưởng với các nước láng giềng như Moldavia, Wallachia and Serbia suy giảm.
Tóm lại thì đại chiến Crimea đã chứng kiến thất bại “muối mặt nhục nhã” của Nga.
Nhìn chung, cuộc chiến Crimea khiến vị thế trên trường quốc tế của Nga bị tổn hại. Đế quốc Nga gặp rắc rối lớn về tài chính. Những khoản nợ chiến tranh khổng lồ dẫn đến sự suy thoái của đồng rúp. Tỷ giá chỉ tạm thời ổn định vào năm 1897 - Trước khi cuộc chiến tranh Nga vs Nhật bùng nổ tại Đông Bắc Á - Mãn Châu (1904-1905) ./.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn